- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị H xin ly hôn Nguyễn Thế C"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị H được ly hôn anh Nguyễn Thế C.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN BÌNH TỈNH YÊN BÁI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2024/HNGĐ-ST Ngày: 12 -4-2024 V/v:“Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN BÌNH – TỈNH YÊN BÁI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thanh Nga
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Xuân Trường và bà Trần Thế Yên
-Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Bình tham gia phiên toà: Không
Ngày12 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 21/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2024 về: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2024/QĐXX
- HNGĐ ngày 26 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Phạm Thị H, sinh năm 1992
Bị đơn: Anh Nguyễn Thế C, sinh năm 1991
Cùng địa chỉ: Thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Yên Bái
(Chị H và anh C đều có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn – Chị Phạm Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị với anh Nguyễn Thế C tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Y, tỉnh Yên Bái vào ngày 19-5-2012. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh C ghen tuông bóng gió, không tin tưởng chị, hay xúc phạm đến chị và gia đình. Nhiều lúc còn đánh chị và mang cả tính mạng gia đình ra để đe dọa. Đến tháng 7-2023 chị đã làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Yên Bình giải quyết ly hôn, vợ chồng đã được Tòa án phân tích hòa giải nên chị đã rút đơn về đoàn tụ. Tuy nhiên từ đó đến nay anh C có thay đổi nhưng không nhiều, mâu thuẫn của vợ chồng vẫn âm ỉ diễn ra, không thể khắc phục được, bản thân chị đã suy nghĩ, cân nhắc rất nhiều nhưng cuộc sống vẫn căng thẳng, bế tắc. Đến nay, chị xác định tình cảm vợ chồng với anh C không còn và đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Thế C.
Về nuôi con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Bảo C1, sinh ngày 30-11-2012 và Nguyễn Bảo U, sinh ngày 28-7-2017. Chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Bảo U và giao cháu Nguyễn Bảo C1 cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng. Không bên nào phải cấp dưỡng con cho bên nào.
- Về chia tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn – Anh Nguyễn Thế C có lời khai thể hiện:
Về quan hệ hôn nhân: Về thời gian, địa điểm và điều kiện kết hôn như chị H trình bày là đúng. Vợ chồng chung sống hạnh phúc bình thường, thỉnh thoảng có xảy ra mâu thuẫn nhưng mâu thuẫn không đáng kể, chị H thường ít nói, không chia sẻ, tâm sự với anh. Đến đầu tháng 8 năm 2023 thì chị H đã làm đơn xin ly hôn, vợ chồng anh đã được Tòa án phân tích, hòa giải, anh nhận lỗi về mình và hứa sẽ thay đổi thì chị H đã rút đơn về đoàn tụ. Từ khi về đoàn tụ thì chị H vẫn không chia sẻ, vợ chồng ít tâm sự với nhau, đôi lúc chị H cảm thấy bị áp lực và lo sợ về cuộc sống gia đình. Do đó, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Đến nay, chị H làm đơn xin ly hôn, anh không đồng ý, anh đề nghị Tòa án hòa giải cho vợ chồng được đoàn tụ để nuôi dậy con chung.
Về nuôi con chung: Vợ chồng có 02 con như chị H đã trình bày. Anh đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Bảo C1 và giao cháu Nguyễn Bảo U cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Không bên nào phải cấp dưỡng con cho bên nào.
Về chia tài sản chung, nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ý kiến của con chung: Cháu Nguyễn Bảo C1 có nguyện vọng được ở với bố là Nguyễn Thế C.
Quá trình giải quyết vụ án Toà án tiến hành hoà giải nhưng không thành
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Anh Nguyễn Thế C có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Yên Bái giải quyết vụ án nên yêu cầu ly hôn của chị Phạm Thi H1 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Yên Bình
Chị Phạm Thị H và anh Nguyễn Thế C đã được Tòa án tống đạt hợp lệ. Chị H và anh C đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Yên Bình xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị H và anh Nguyễn Thế C kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Y, tỉnh Yên Bái ngày 19-5-2012, vì vậy quan hệ hôn nhân giữa anh chị là hợp pháp.
Trong quá trình giải quyết vụ án, hai bên đều thừa nhận trong quá trình chung sống có mâu thuẫn, không tìm được tiếng nói chung. Anh chị đã được Toà án hoà giải nhưng hai bên vẫn không khắc phục được mâu thuẫn. Mặc dù, anh C không nhất trí ly hôn nhưng anh cũng không tìm được biện pháp tích cực nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng.
Từ đó có căn cứ cho thấy tình trạng hôn nhân giữa chị Phạm Thị H đã thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Thị H là có căn cứ. Vì vậy, cần áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình để xử cho chị Phạm Thị H được ly hôn anh Nguyễn Thế C.
Về nuôi con chung: Chị Phạm Thị H và anh Nguyễn Thế C có hai con chung là Nguyễn Bảo C1, sinh ngày 30-11-2012 và Nguyễn Bảo U, sinh ngày 28-7-2017. Hai bên đều thống nhất chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu U; anh C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu C1. Không bên nào cấp dưỡng nuôi con cho bên nào. Xét thoả thuận của anh chị là không trái đạo đức xã hội, không trái pháp luật và phù hợp với nguyện vọng của con chung nên cần chấp nhận.
Về chia tài sản và nợ chung: Chị Phạm Thị H và anh Nguyễn Thế C đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Phạm Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Khoản 4 Điều 147, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban hường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
1.Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị H được ly hôn anh Nguyễn Thế C.
2.Về nuôi con chung: Giao cho chị Phạm Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung là Nguyễn Bảo U, sinh ngày 28-7-2017; Giao cho anh Nguyễn Thế C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung là Nguyễn Bảo C1, sinh ngày 30-11-2012 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi theo quy định của pháp luật. Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con cho bên nào.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
3.Về án phí: Chị Phạm Thị H phải nộp 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp tại biên lai số: 0001247 ngày 19-02-2024 của chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái (xác nhận chị H đã nộp đủ).
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND huyện Yên Bình; - THADS huyện Yên Bình; - UBND xã Yên Bình; - Các đương sự; - Lưu HS, TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (đã ký) Lê Thị Thanh Nga |