vanban.org

Bản án 25/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Tuấn V được ly hôn với chị Nguyễn Thị Mỹ T .

Về quan hệ con chung: Không có. Về quan hệ tài sản, nữ trang chung, nợ chung: Anh V xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh Nguyễn Tuấn V yêu cầu được ly hôn với chị Nguyễn Thị Mỹ T ."
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Tuấn V được ly hôn với chị Nguyễn Thị Mỹ T .
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 25/2024/HNGĐ-ST
Ngày 03/5/2024
Về việc“Tranh chấp ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T , TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chiến

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Văn Động

2. Bà Phạm Thị Lệ Hoa

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Chi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện T , tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T , tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Công Đỉnh - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T , tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 302/2023/TLST- HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2023 về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 10/2024/QĐST-HNGĐ ngày 10/4/2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Tuấn V - sinh năm 1993 (có mặt)

Địa chỉ: ấp B , xã P , huyện P , tỉnh An Giang.

2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Mỹ T - sinh năm 1989

Địa chỉ: ấp T , xã T , huyện T , tỉnh Kiên Giang.

(vắng mặt lần 2 không lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn anh Nguyễn Tuấn V trình bày:

Anh Nguyễn Tuấn V và chị Nguyễn Thị Mỹ T tự tìm hiểu quen biết khoảng 3 tháng và chung sống với nhau vào tháng 02 năm 2016, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã P , huyện P , tỉnh An Giang ngày 09/5/2016.

Lý do xin ly hôn: Quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc, đến tháng 11/2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn anh V cho rằng do vợ chồng bất đồng quan điểm với nhau trong cuộc sống, tính tình không hợp nhau, chị T thường hay đi nhậu nhẹt với bạn bè, anh V có khuyên nhưng chị T không thay đổi, dẫn đến vợ chồng thường xảy ra cự cãi, từ đó làm cho mâu thuẫn vợ chồng ngày càng gay gắt. Thấy tiếp tục chung sống với nhau không có hạnh phúc nên vợ chồng đã ly thân từ tháng 11/2016 cho đến nay.

- Về con chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Tại phiên tòa anh V yêu cầu:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh V yêu cầu được ly hôn với chị T .

- Về con chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

* Tòa án có triệu tập chị Nguyễn Thị Mỹ T để hòa giải hôn nhân và gia đình, nhưng chị Nguyễn Thị Mỹ T vắng mặt, nên Tòa án đưa vụ kiện ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

* Việc tuân theo pháp luật tố tụng:

- Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng nhiệm vụ quyền hạn của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Bị đơn vắng mặt mặc dù đã được Tòa án cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng hợp lệ.

* Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Tuấn V .

- Về quan hệ con chung: Anh V trình bày không có.

- Về tài sản chung và nợ chung: Anh V trình bày không có, không yêu cầu giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã giao quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy báo phiên tòa, quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ nhưng chị Mỹ T vắng mặt. Tại phiên tòa nguyên đơn đồng ý xét xử vắng mặt bị đơn nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử thống nhất xử vắng mặt chị Nguyễn Thị Mỹ T .

Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, chị T chưa có ý kiến xác nhận theo đơn khởi kiện xin ly hôn của anh V tại Tòa án. Tuy nhiên, Tòa án đã tống đạt đầy đủ và hợp lệ các thủ tục theo quy định Bộ luật tố tụng dân sự như: Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, nhưng chị T vẫn không đến Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Xét mối quan hệ hôn nhân giữa anh V và chị T chung sống với nhau được UBND xã P , huyện P , tỉnh An Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 52, ngày 09/5/2016, nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu xin được ly hôn của anh V là có cơ sở chấp nhận. Bởi vì, vợ chồng anh chị chung sống với nhau đến tháng 11/2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Anh V cho rằng do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, chị T thường hay đi nhậu nhẹt với bạn bè, anh V có khuyên nhưng chị T không thay đổi, từ đó dẫn đến vợ chồng thường xảy ra cự cãi làm cho mâu thuẫn vợ chồng ngày càng gay gắt.

Tại phiên tòa, anh V thể hiện rõ quan điểm muốn ly hôn, không muốn đoàn tụ. Mặt khác, anh V và chị T hai bên đã ly thân với nhau từ tháng 11/2016 cho đến nay. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa anh V và chị T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, trong phần nghị án Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh V được ly hôn với chị T .

Về quan hệ con chung: Không có.

Về tài sản, nữ trang chung, nợ chung: anh V xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử miễn xét. Trường hợp chị T cho rằng có tài sản chung và có tranh chấp, sẽ khởi kiện thành một vụ kiện khác và sẽ được xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Buộc anh V phải nộp án phí theo quy định pháp luật.

Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo trong hạn luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Tuấn V được ly hôn với chị Nguyễn Thị Mỹ T .

2. Về quan hệ con chung: Không có.

3. Về quan hệ tài sản, nữ trang chung, nợ chung: Anh V xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Buộc anh Nguyễn Tuấn V phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003669 ngày 04/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T , tỉnh Kiên Giang.

5. Quyền kháng cáo: Các đương sự biết có quyền kháng cáo trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với chị Nguyễn Thị Mỹ T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ