vanban.org

Bản án 25/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Hồng Nh và anh Tăng Văn L, xử cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Hồng Nh và anh Tăng Văn L.

Về quan hệ con chung: Giao cháu Tăng Minh Th, sinh ngày 19/02/2016 cho chị Nguyễn Thị Hồng Nh tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh L không phải cấp dưỡng nuôi con vì chị Nh không yêu cầu. Anh L có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Về án phí: Chị…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Tuyết Nhung- Tăng Văn Liêm"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Hồng Nh và anh Tăng Văn L, xử cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Hồng Nh và anh Tăng Văn L.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÒA BÌNH
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 27/03/2024
V/v: “Tranh chấp ly hôn, con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA N NH N D N HUYỆN HÒA BÌNH, TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Tào Ngọc Phượng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1.Ông Liêu Tài Ngoánh

2.Ông Huỳnh Tài Em

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Dư - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Văn Hữu Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 03 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 53/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 02 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2024/QĐXX- ST ngày 11 tháng 03 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hồng Nhung, sinh năm 1988

Địa chỉ: Xóm 1, Thôn BL, xã Nguyên Xá, huyện ĐH, tỉnh Thái Bình.

- Bị đơn: Anh Tăng Văn L, sinh năm 1992

Địa chỉ: Âp VL, xã VT, huyện HB, tỉnh Bạc Liêu.

(Các đương sự có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ N:

Tại đơn khởi kiện ngày 23/02/2024 và lời khai trong quá trình tố tụng tại Tòa án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng Nh trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Tăng Văn L xây dựng hôn nhân với nhau vào năm 2015, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương và có đăng ký kết hôn theo quy định. Sau khi cưới xong vợ chồng chị sống hạnh phúc, đến năm 2017 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, sống không hợp nhau, thường xuyên cãi nhau và hiện tại không còn chung sống với nhau từ năm 2017 cho đến nay. Nay xét thấy, tình cảm vợ chồng chị không thể tiếp tục chung sống được nữa, nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Tăng Văn L.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng chị có 01 người con chung: Tăng Minh Th, sinh ngày 19/02/2016 hiện đang ở với chị Nh, chị yêu cầu tiếp tục nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị Hồng Nhu xác định trong quá trình chung sống vợ chồng chị không có nên không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn anh Tăng Văn L trình bày: Anh và chị Nguyễn Thị Hồng Nh xây dựng hôn nhân với nhau vào năm 2015 và có đăng ký kết hôn theo quy định. Quá trình chung sống vợ chồng anh có 01 người con chung tên: Tăng Minh Th, sinh ngày 19/02/2016 hiện đang ở với chị Nh; về tài sản chung và nợ chung không có. Nguyên nhân mâu thuẩn do vợ chống sống không hợp nhau và hiện tại không còn chung sống với nhau 07 năm. Nay xét thấy tình cãm giữa vợ chồng anh không thể tiếp tục sống chung được nữa nên anh đồng ý ly hôn với chị Nh và giao con cho chị Nh tiếp tục nuôi. Ngoài ra, anh không còn ý kiến gì khác.

Ý kiến của kiểm sát viên:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa.

Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình và có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự đủ điều kiện xét xử.

Về nội dung đề xuất: Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Điều 53, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đinh năm 2014; Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Hồng Nh đối với anh Tăng Văn L.

- Về con chung: Giao Tăng Minh Th, sinh ngày 19/02/2016 cho chị Nguyễn Thị Hồng Nh tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục.

- Về cấp dưỡng: Chị Nguyễn Thị Hồng Nh không yêu cầu

- Về tài sản chung, nợ chung: không có nên không đặt ra xem xét.

- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: chị Nguyễn Thị Hồng Nh phải chịu 300.000đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp ly hôn giữa nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Hồng Nh, địa chỉ Xóm 1, Thôn Bắc Lạng, xã Nguyên Xá, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình và bị đơn anh Tăng Văn L, địa chỉ ấp Vĩnh Lập, xã Vĩnh Thịnh, huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu.

Tại phiên toà, chị Nguyễn Thị Hồng Nh và anh Tăng Văn L có đơn xin xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vụ án.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hồng Nh và anh Tăng Văn L xây dựng hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định nên hôn nhân giữa chị Nh và anh L là hợp pháp được Luật hôn nhân và gia đình bảo vệ. Chị Nh cho rằng trong quá trình chung sống với anh L do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, sống không hợp nhau thường xuyên cãi nhau và hiện tại vợ chồng chị không còn chung sống với nhau từ năm 2017 cho đến nay, chị xét thấy, tình cảm giữa vợ chồng chị không thể tiếp tục sống chung được nữa nên chị yêu cầu được ly hôn, phía anh L cũng thừa nhận trong quá trình chung sống vợ chồng có bất đồng quan điểm và anh cũng đồng ý ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy, quan hệ hôn nhân tồn tại bền vững thì phải dựa trên cơ sở tự nguyện; vợ chồng phải biết, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau xây dựng gia đình phát triển. Tuy nhiên, trong quá trình chung sống vợ chồng chị không biết tôn trọng nhau để cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc mà thường xuyên cãi nhau và hiện tại không còn chung sống với nhau và cũng không có liên lạc để hàn gắn tình cảm vợ chồng; điều này cho thấy tình trạng hôn nhân giữa vợ chồng chị Nh và anh L đã có xảy ra mâu thuẫn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Hồng Nh đối với anh Tăng Văn L.

Về quan hệ con chung: Chị Nguyễn Thị Hồng Nh xác định quá trình chung sống với anh Tăng Văn Liêm có 01 người con chung tên: Tăng Minh Th, sinh ngày 19/02/2016. Hội đồng xét xử xét thấy, hiện tại cháu Th đang ở với chị Nh và cũng có nguyện vọng ở với chị Nh nên tiếp tục giao cháu Th cho chị Nh trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Tăng Văn L có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng: Chị Nguyễn Thị Hồng Nh không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Hồng Nh và anh Tăng Văn L xác định không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Hồng Nh phải chịu án phí hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.

Từ những phân tích, nhận định và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với tài liệu chứng cứ cũng như phân tích, đánh giá của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 228, khoản 4 Điều 147, Điều 271 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, khoản 1 Điều 53, Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Hồng Nh và anh Tăng Văn L, xử cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Hồng Nh và anh Tăng Văn L.

2. Về quan hệ con chung: Giao cháu Tăng Minh Th, sinh ngày 19/02/2016 cho chị Nguyễn Thị Hồng Nh tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh L không phải cấp dưỡng nuôi con vì chị Nh không yêu cầu. Anh L có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Hồng Nh phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Chị Nh đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0005269 ngày 23/02/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu được chuyển thu án phí.

4. Án xử sơ thẩm công khai, các đương vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt theo quy định của pháp luật. Nơi nh n:

Cỡ chữ