vanban.org

Bản án 25/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho anh Đặng Văn Ú Bé được ly hôn với chị Phan Mộng C.

Về con chung: Giao cháu Đặng Trâm A - sinh ngày: 10/4/2019 cho anh Út B tiếp tục nuôi dưỡng. Chị C được quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp HNGD-xin ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho anh Đặng Văn Ú Bé được ly hôn với chị Phan Mộng C.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIỒNG RIỀNG
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 16-01-2024
“V/v Tranh chấp HNGĐ - xin ly hôn ”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thúy An Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Phú Quốc

Ông Trịnh Hoàng Giang

- Thư ký phiên toà: Bà Huỳnh Thị Phượng - Là Thư ký Toà án nhân dân huyện Giồng Riềng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm T – Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 187/2023/TLST - HNGĐ, ngày 17 tháng 03 năm 2023 về việc tranh chấp xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 352/2023/QĐXXST- HNGĐ, ngày 04 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Anh Đặng Văn Út B - sinh n¨m: 1992. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

®Þa chØ: Ấp H, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ.

-Bị đơn: Chị Phan Mộng C - Sinh năm: 2001 (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn - anh Đặng Văn Ú Bé trình bày: Anh và chị C tự tìm hiểu nhau khoảng gần 06 tháng, sau đó gia đình hai bên tổ chức đám cưới năm 2018. Vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ. Vợ chồng hạnh phúc gần 04 năm thì phát sinh mâu thuẫn, chị C không có trách nhiệm với gia đình, tự ý bỏ đi không chung sống với anh và con. Anh chị đã ly thân từ đầu tháng 03 năm 2022 cho đến nay, anh Út B sống nhà trọ ở Bình Dương, chị C sống ở đâu thì anh không rõ, vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc nhau, mâu thuẫn không thể hàn gắn được. Nay anh Út B yêu cầu ly hôn với chị C.

Về con chung: Có 01 con chung tên Đặng Trâm A - sinh ngày: 10/4/2019. Anh Út B yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu chị C cấp dưỡng. Hiện nay anh đang làm công nhân thu nhập ổn định hàng tháng 10.000.000 đồng nên đảm bảo các điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con. Anh Út B không yêu cầu chị C phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn - chị Phan Mộng C đã được tống đạt văn bản tố tụng nhưng không trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của anh Út B và có đơn xin xét xử vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Anh Đặng Văn Ú Bé khởi kiện xin ly hôn, nuôi con với chị Phan Mộng C. Đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình - xin ly hôn, nuôi con được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn có nơi cư trú tại xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang nên theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng.

Trong quá trình giải quyết vụ án, chị C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, vắng mặt tại phiên tòa do bận công việc. Xét thấy sự vắng mặt của chị C không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị C theo quy định tại khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Xét quan hệ hôn nhân: Anh Đặng Văn Út B và chị Phan Mộng C cưới nhau vào năm 2018, anh chị có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ chứng nhận kết hôn nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Anh Út B xác định cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, không có sự tin tưởng, quan tâm chăm sóc nhau. Anh và chị C đã ly thân từ tháng 03 năm 2022 cho đến nay.

Theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.....”. Anh chị đã vi phạm quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, vợ chồng không sống chung trong một khoảng thời gian dài, không quan tâm, chăm sóc nhau. Quá trình giải quyết vụ án, chị C không trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của anh Út B và không đến Tòa án tham gia tố tụng. Xét thấy tình trạng hôn nhân của anh chị ngày càng mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình xử chấp nhận cho anh Đặng Văn Ú Bé được ly hôn với chị Phan Mộng C.

Về con chung:

Theo lời trình bày của anh Út B và giấy khai sinh có cơ sở xác định, anh Út B và chị C có 01 con chung tên Đặng Trâm A - sinh ngày: 10/4/2019. Hiện con đang chung sống với anh Út B. Anh Út B yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu Trâm A, không yêu cầu chị C phải cấp dưỡng. Xét thấy hiện cháu Trâm A đang chung sống ổn định với anh Út B, anh Út B đảm bảo các điều kiện chăm sóc và giáo dục co, chị C không có ý kiến phản đối về yêu cầu nuôi con của anh Út B do đó yêu cầu tiếp tục nuôi con của anh Út B là phù hợp với khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Do anh Út B không yêu cầu chị C cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

Chị C được quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.

Về tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí;

Án phí ly hôn sơ thẩm anh Út B phải nộp là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0007971 ngày 17/3/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Căn cứ khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho anh Đặng Văn Ú Bé được ly hôn với chị Phan Mộng C.

2. Về con chung: Giao cháu Đặng Trâm A - sinh ngày: 10/4/2019 cho anh Út B tiếp tục nuôi dưỡng.

Chị C được quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.

3. Về án phí: Án phí ly hôn sơ thẩm anh Út B phải nộp là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0007971 ngày 17/3/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.

Báo cho anh Út B biết có quyền kháng cáo Bản án trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 16/01/2024, chị C được tính kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ