vanban.org

Bản án 25/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị U đối với anh Đồng Duy K.

1 Về hôn nhân: Chị Lê Thị U được ly hôn với anh Đồng Duy K. 2 Về con chung: Giao cháu Đồng Gia P, sinh ngày 28-5-2021 cho chị Lê Thị U được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; ghi nhận chị U không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị U đối với anh Đồng Duy K.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 07-5-2024.
V/v “Ly hôn, tranh chấp
về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Hân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Hữu Thiện;

2. Ông Võ Văn Vui.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Tuyết Mai, Thư ký Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Bà Lâm Phượng Tú - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 515/2023/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 11 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị U, sinh năm 1989; địa chỉ cư trú: A16 khu phố L, phường B, thị xã H, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Đồng Duy K, sinh năm 1990; địa chỉ cư trú: Nhà số 26 Tổ 17 ấp N, xã B1, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 06 tháng 11 năm 2023 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn - chị Lê Thị U trình bày:

Chị và anh Đồng Duy K tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2021, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, thị xã H, tỉnh Tây Ninh vào ngày 02-02-2021. Quá trình chung sống chị và anh K có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh K không lo làm ăn, thường xuyên ăn chơi cờ bạc dẫn đến nợ nần, anh K còn có mối quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, từ đó phát sinh mâu thuẫn dẫn đến thường xuyên cãi nhau. Từ tháng 11/2022 thì chị bỏ về nhà mẹ ruột ở cho đến nay, từ khi ly thân anh chị không còn qua lại, chăm sóc lẫn nhau. Chị nhận thấy không còn tình cảm với anh K nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh K.

Về con chung: Có 01 con chung là cháu Đồng Gia P, sinh ngày 28-5-2021, hiện đang sống cùng với chị. Chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu P, chị không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai đề ngày 13-12-2023 – anh Đồng Duy K trình bày:

Anh thống nhất với lời trình bày của chị U về thời gian chung sống, kết hôn, ly thân, con chung, tài sản chung và nợ chung. Anh thừa nhận sau thời gian chung sống hạnh phúc thì vợ chồng anh có cãi nhau. Từ tháng 11/2022 chị U bỏ về nhà mẹ ruột ở cho đến nay. Từ khi chị U bỏ đi thì anh chị không còn qua lại, chăm sóc lẫn nhau. Tuy nhiên, anh không đồng ý ly hôn với chị U do anh còn thương vợ, thương con.

Về con chung: Có 01 con chung là cháu Đồng Gia P, sinh ngày 28-5-2021, hiện đang sống cùng với chị U. Trường hợp Toà án giải quyết ly hôn thì anh đồng ý giao con chung cho chị U trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh:

+ Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do, xem như từ bỏ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

+ Về nội dung: Căn cứ Điều 51, 53, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị U đối với anh Đồng Duy K. Về con chung: Giao con chung là cháu Đồng Gia P, sinh ngày 28-5-2021 cho chị U trực tiếp nuôi dưỡng, ghi nhận chị U không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí: Chị U phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:

Về thủ tục tố tụng: Chị Lê Thị U khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con với anh Đồng Duy K hiện đang cư trú tại ấp Ninh Thuận, xã Bàu Năng, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp hôn nhân và gia đình về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.

Anh Đồng Duy K là bị đơn không thực hiện nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên phải chịu hậu quả của việc không giao nộp chứng cứ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình được quy định tại các Điều 91, 96 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên toà, chị Lê Thị U vắng mặt, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt; anh Đồng Duy K đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh K theo Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị U và anh Đồng Duy K tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường B, thị xã H, tỉnh Tây Ninh vào ngày 02/02/2021. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Chị U khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh K bởi vì do anh K không lo làm ăn, thường xuyên ăn chơi cờ bạc dẫn đến nợ nần, từ đó phát sinh mâu thuẫn dẫn đến thường xuyên cãi nhau, cuộc sống hôn nhân của chị không hạnh phúc và chị không còn tình cảm với anh K. Vợ chồng chị sống ly thân từ tháng 11/2022 cho đến nay, từ khi ly thân anh chị không còn qua lại chăm sóc lẫn nhau. Tại biên bản lấy lời khai ngày 13-12-2023 anh K không đồng ý ly hôn với chị U do còn thương vợ, thương con. Tuy nhiên, anh K đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa mà không có lý do, thể hiện việc anh K đã từ bỏ quyền, nghĩa vụ của mình cũng như không mong muốn đoàn tụ với chị U.

Như vậy, có cơ sở để xác định tình trạng hôn nhân của chị U và anh K đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị U đối với anh K là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Có 01 con chung là cháu Đồng Gia P, sinh ngày 28-5-2021, hiện đang sống cùng với chị U. Xét thấy, thời gian chị U và anh K ly thân, cháu P vẫn sinh sống ổn định cùng chị U và anh K cũng đồng ý giao cháu P cho chị U trực tiếp nuôi dưỡng. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị U, giao cháu P cho chị U trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Ghi nhận chị U không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con. Anh K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trờ.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Xét lời đề nghị tại phiên toà của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lê Thị U phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 53, 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị U đối với anh Đồng Duy K.

1.1 Về hôn nhân: Chị Lê Thị U được ly hôn với anh Đồng Duy K.

1.2 Về con chung: Giao cháu Đồng Gia P, sinh ngày 28-5-2021 cho chị Lê Thị U được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; ghi nhận chị U không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con.

Anh Đồng Duy K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

1.3 Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lê Thị U phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0007059 ngày 22-11-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.

3. Đương sự có mặt có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh Đồng Duy K có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ