vanban.org

Bản án 25/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà Trần Thị Khánh H được ly hôn với ông Hoàng Bảo Thanh Q.

Về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Giao cháu Hoàng Nam D sinh ngày 14/9/2017 cho ông Hoàng Bảo Thanh Q được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án HNGĐ về ly hôn giữa nguyên đơn bà Trần Thị Khánh H và bị đơn ông Hoàng Bảo Thanh Q"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà Trần Thị Khánh H được ly hôn với ông Hoàng Bảo Thanh Q.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LÂM CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 17/4/2024
V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LÂM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoài Tâm

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Võ Bá Phụng

2/ Ông Phạm Hồng Thịnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Huệ – Thư ký Toà án nhân dân huyện Cam Lâm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Hùng – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 03/2024/TLST-HNGĐ ngày 12/01/2024 về việc “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2024/QĐST-HNGĐ ngày 03/4/2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Khánh H - Sinh năm: 1988

Địa chỉ: thôn V, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

2. Bị đơn: Ông Hoàng Bảo Thanh Q - Sinh năm: 1989

Địa chỉ: thôn V, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN :

Trong đơn khởi kiện đề ngày 15/12/2023, bản tự khai ngày 01/3/2024, nguyên đơn bà Trần Thị Khánh H trình bày:

Về yêu cầu ly hôn: Bà H và ông Hoàng Bảo Thanh Q tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 2015 và được Ủy ban nhân dân xã Cam Hiệp Nam cấp giấy chứng nhận kết hôn số 19/2015 quyển số 01/2013 ngày 13/5/2015.

Quá trình chung sống vợ chồng bà H nảy sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên kình cãi. Nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hợp, không có tiếng nói chung và ông Q không quan tâm đến vợ con. Bà H và ông Q đã sống ly thân nhau đã gần 02 năm, không ai quan tâm đến ai. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã quá trầm trọng, vợ chồng không thể hàn gắn để tiếp tục sống chung với nhau được, bà H yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Hoàng Bảo Thanh Q.

Về yêu cầu nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Vợ chồng bà H có 01 con chung là cháu Hoàng Nam D sinh ngày 14/9/2017. Hiện nay, cháu D đang sống cùng với ông Q. Bà H xin giao cháu D cho ông Q nuôi dưỡng, giáo dục và xin không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về yêu cầu chia tài sản chung khi ly hôn: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong biên bản lấy lời khai ngày 19/3/2024, bị đơn ông Hoàng Bảo Thanh Q trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông Q và bà Trần Thị Khánh H kết hôn với nhau năm 2015 và được UBND xã Cam Hiệp Nam cấp giấy chứng nhận kết hôn số 19/2015 quyển số 01/2013 ngày 13/5/2015. Trong thời gian chung sống vợ chồng Q làm ăn bị thua lỗ, kinh tế gặp khó khăn. Cuối năm 2019, bà H đi làm trong thành phố Cam Ranh, sau đó có tình cảm với người đàn ông khác rồi không về nhà nữa. Do ông Q là người theo Công giáo nên việc bà H yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thì ông Q không có ý kiến gì.

Về yêu cầu nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung: Vợ chồng ông Q có 01 con chung là cháu Hoàng Nam D sinh ngày 14/9/2017. Hiện nay cháu D đang ở với ông Q. Trường hợp Tòa án giải quyết cho bà H ly hôn thì ông Q xin được nuôi cháu D và không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con.

Về yêu cầu chia tài sản chung: Ông Q không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát có ý kiến như sau:

- Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn bà Trần Thị Khánh H và ông Hoàng Bảo Thanh Q đã chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình. Các đương sự đều có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải và xét xử vắng mặt.

- Về nội dung: Yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc ly hôn cũng như về việc nuôi con, cấp dưỡng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Tòa án nhận định:

[1] Về tố tụng:

Ngày 15/12/2023, bà Trần Thị Khánh H có đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Hoàng Bảo Thanh Q, đây là quan hệ tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm đã thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn bà Trần Thị Khánh H và bị đơn ông Hoàng Bảo Thanh Q có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 4 Điều 207; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về yêu cầu ly hôn: Bà Trần Thị Khánh H và ông Hoàng Bảo Thanh Q tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 2015 và được Ủy ban nhân dân xã Cam Hiệp Nam cấp giấy chứng nhận kết hôn số 19/2015 quyển số 01/2013 ngày 13/5/2015, đây là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống giữa bà H và ông Q đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, vợ chồng không còn yêu thương nhau. Bà H và ông Q đã sống ly thân nhau đã gần 02 năm, không ai quan tâm đến ai. Ông Q là người theo Công giáo nên bà H yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thì ông Q không có ý kiến gì. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tạo điều kiện cho hai bên hòa giải nhưng bà H, ông Q đều đề nghị không hòa giải và xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa bà H và ông Q đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Khánh H.

[3] Về yêu cầu nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Bà H và ông Q có 01 con chung là cháu Hoàng Nam D sinh ngày 14/9/2017. Hiện nay cháu D đang ở với ông Q. Bà H xin giao cháu D cho ông Q nuôi dưỡng, giáo dục và ông Q cũng có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục cháu D. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu D cho ông Q được tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục.

Ông Q không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con nên không xét.

[4] Về yêu cầu chia tài sản chung khi ly hôn: Bà H và ông Q không yêu cầu giải quyết nên không xét.

[5] Về án phí: Bà H phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà Trần Thị Khánh H được ly hôn với ông Hoàng Bảo Thanh Q.

2. Về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con:

- Giao cháu Hoàng Nam D sinh ngày 14/9/2017 cho ông Hoàng Bảo Thanh Q được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Q không yêu cầu nên không xét.

Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con; không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.

3. Về yêu cầu chia tài sản chung khi ly hôn: Bà H và ông Q không yêu cầu giải quyết nên không xét.

4. Về án phí: Bà Trần Thị Khánh H phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0007547 ngày 05/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cam Lâm; bà Trần Thị Khánh H đã nộp đủ tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

5. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

6. Quy định: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ