vanban.org

Bản án 25/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 26/01/2024 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Thu T.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thu T được ly hôn ông Kim Chang S. Về con chung: Không có. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Thu T.
  • Căn cứ chính? Luật Thi hành án dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 26-01-2024
V/v tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Thủy Tiên.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thanh Mai.

2. Bà Lê Thị Nhanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Nguyễn Ngọc Linh – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 26 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 265/2023/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 369/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1979; Địa chỉ: Số 441, tổ 1, ấp A, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (có đơn xin vắng mặt)

- Bị đơn: Ông Kim Chang S, sinh năm 1975; Quốc tịch: Hàn Quốc; Địa chỉ: 495 X, Y, Z, Korea. (có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 27/4/2023 và bản tự khai, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Kim Chang S kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 32 ngày 22/3/2018. Sau khi kết hôn, ông Kim Chang S trở về Hàn Quốc sinh sống và làm việc, bà vẫn ở lại Việt Nam. Thời gian đầu giữa bà và ông Kim Chang S thỉnh thoảng có liên lạc qua lại. Sau đó, xảy ra mâu thuẫn. Cuối năm 2019 thì không còn liên lạc. Do không có điều kiện gặp nhau để hàn gắn tình cảm nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không giải quyết được, khả năng đoàn tụ không có, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà đề nghị được ly hôn với ông Kim Chang S để ổn định cuộc sống.

Về con chung, tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung: Không có.

Vì bận việc, bà yêu cầu được vắng mặt cho đến khi kết thúc vụ án. Tại Bản tự khai đã được chứng nhận Hợp pháp hóa Lãnh sự tại Đại sứ quán nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Đại Hàn Dân Quốc ngày 13/12/2023, bị đơn ông Kim Chang S xác nhận lời trình bày của bà Nguyễn Thị Thu T về thời điểm kết hôn, về mâu thuẫn chung của vợ chồng, về con chung, tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung là đúng. Nay bà T xin ly hôn, ông đồng ý được ly hôn với bà T. Do điều kiện đi lại gặp nhiều khó khăn, ông yêu cầu được vắng mặt cho đến khi kết thúc vụ án. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Nguyễn Thị Thu T và ông Kim Chang S kết hôn trên cơ sở tự nguyện và được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận kết hôn số 32 ngày 22/3/2018. Căn cứ theo Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên có đủ cơ sở xác định hôn nhân giữa bà T và ông Kim Chang S là hôn nhân hợp pháp. Nguyên đơn cư trú tại Thành phố Hồ Chí Minh; Bị đơn hiện cư trú tại nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35 và khoản 1 Điều 37 của Bộ luật tố tụng dân sự. [2] Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ nên vụ án thuộc trường hợp Viện kiểm sát không tham gia phiên tòa sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự. Xét bản tự khai của ông Kim Chang S đã được chứng nhận Hợp pháp hóa Lãnh sự tại Đại sứ quán nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Đại Hàn Dân Quốc ngày 13/12/2023 nên được xem là chứng cứ hợp pháp của vụ án theo quy định tại Điều 94 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn và bị đơn có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết, yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được quy định tại Khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. [3] Xét yêu cầu của bà Nguyễn Thị Thu T được ly hôn ông Kim Chang S. Hội đồng xét xử xét thấy: Qua lời trình bày của bà T và ông Kim Chang S thì thực tế sau khi kết hôn hai bên phát sinh mâu thuẫn không thể giải quyết được. Từ khi kết hôn cho đến nay, bà T và ông Kim Chang S không có quá trình chung sống lâu dài, do xa cách địa lý nên tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt, hai bên chưa có sự gắn kết sâu đậm về tình cảm vợ chồng. Hiện nay bà T và ông Kim Chang S đang sinh sống ở hai nước khác nhau nên khả năng đoàn tụ không còn, mục đích hôn nhân không đạt được hạnh phúc. Vì vậy, bà Nguyễn Thị Thu T yêu cầu được ly hôn ông Kim Chang S là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung, tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung: Bà Nguyễn Thị Thu T và ông Kim Chang S khai không có.

Án phí sơ thẩm:

Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm bà Nguyễn Thị Thu T phải chịu theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Thu T và ông Kim Chang S có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, Điều 147, Điều 228, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 51, Điều 56 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Thu T.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thu T được ly hôn ông Kim Chang S.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung: Không có.

2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: 300.000 đồng (Ba trăm nghìn), bà Nguyễn Thị Thu T chịu và được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng mà bà Hoa đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số AA/2022/0004066 ngày 23/10/2023 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Nguyễn Thị Thu T đã nộp đủ tiền án phí.

3. Bà Nguyễn Thị Thu T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án. Ông Kim Chang S được quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ. Viện kiểm sát được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ