vanban.org

Bản án 25/2024/HN-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phạm Thị Ngọc H.

[1] Về hôn nhân: Chị Phạm Thị Ngọc H được ly hôn với anh Đặng Văn D. [2] Về con chung: Giao con chung tên Đặng Thị Tuyết N, sinh ngày xx/xx/xxxx cho chị Phạm Thị Ngọc H tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi lao động được. Chị H không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phạm Thị Ngọc H.
  • Căn cứ chính? Điều 277 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH TIỀN GIANG
Bản án số: 25/2024/HN-ST
Ngày: 18/01/2024
V/v “Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nguyên

Các Hội thẩm nhân dân:

+ Ông Lê Văn Minh

+ Ông Tô Tuấn Tú

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Tuyền – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân thụ lý số 435/2023/TLST-HN ngày 13/11/2023 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 510/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 22/12/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2023/QĐST-HNGĐ ngày 09/01/2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: PHẠM THỊ NGỌC H, sinh năm xxxx; Địa chỉ: ấp V, xã T, huyện G, tỉnh T (xin vắng mặt).

2. Bị đơn: ĐẶNG VĂN D, sinh năm xxxx; Địa chỉ: ấp K, xã T, huyện G, tỉnh T (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn xin ly hôn và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Phạm Thị Ngọc H trình bày: chị và anh D cưới nhau vào năm 2011 do hai bên tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Thành. Quá trình chung sống hạnh phúc đến năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không thống nhất được nơi ở nên anh D về nhà anh D sinh sống. Chị và anh D không còn chung sống với nhau từ năm 2012 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn lại được nữa nên chị xin được ly hôn với anh D.

+ Về con chung: Có 01 con chung tên Đặng Thị Tuyết N, sinh ngày xx/xx/xxxx. Hiện con đang sống với chị, khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con.

+ Về tài sản chung: Không có.

+ Về nợ chung: Không có.

* Bị đơn anh Đặng Văn D đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng cho anh D nhưng Dũng không đến Tòa án và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu xin ly hôn của chị H.

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều tuân thủ đúng quy định pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: Chị H yêu cầu ly hôn với anh D và yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung tên Đặng Thị Tuyết N, sinh ngày xx/xx/xxxx, không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con là có cơ sở chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét toàn diện chứng cứ và ý kiến của các đương sự:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị H và anh D tự nguyện kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Thành. Nay chị H xin ly hôn với anh D nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ đang tranh chấp là “xin ly hôn”. Bị đơn anh Đặng Văn D trú tại địa chỉ: ấp K, xã T, huyện G, tỉnh T nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Nguyên đơn chị Phạm Thị Ngọc H có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Đặng Văn D đã được triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng anh D vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị H và anh D theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Thị Ngọc H, Hội đồng xét xử thấy rằng: Chị H yêu cầu xin ly hôn với anh D do quá trình chung sống, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Chị H và anh D không sống chung với nhau từ năm 2012 cho đến nay, trong thời gian này chị H và anh D đều không có biện pháp nào để hàn gắn tình cảm với nhau. Anh D vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, anh D vẫn không đến để trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu ly hôn của chị H, chứng tỏ anh D không có thiện chí để hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị H. Xét thấy, mâu thuẫn giữa chị H và anh D đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị H yêu cầu ly hôn với anh D là có căn cứ chấp nhận.

- Về con chung: Có 01 con chung tên Đặng Thị Tuyết N, sinh ngày xx/xx/xxxx hiện đang sống với chị H. Khi ly hôn chị H yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung và không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy cháu N là bé gái và hiện đang sống ổn định với chị H. Anh D cũng không có ý kiến gì về việc yêu cầu của chị H được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và theo nguyện vọng của cháu N là được tiếp tục sống với chị H nên Hội đồng xét xử tiếp tục giao cháu N cho chị H nuôi dưỡng. Về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, chị H không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về tài sản chung và nợ chung: chị H trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát.

Về án phí: do chị H là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên chị Huyền phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm a, b khoản 2 điều 277 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phạm Thị Ngọc H.

[1] Về hôn nhân: Chị Phạm Thị Ngọc H được ly hôn với anh Đặng Văn D.

[2] Về con chung: Giao con chung tên Đặng Thị Tuyết N, sinh ngày xx/xx/xxxx cho chị Phạm Thị Ngọc H tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi lao động được. Chị H không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con.

Chị H và anh D có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được ngăn cản.

Vì lợi ích mọi mặt của con, khi cần thiết có thể thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con, người trực tiếp nuôi con hoặc có sự thay đổi khác

[3] Về án phí: Chị Phạm Thị Ngọc H phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0013013 ngày 13/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Công Đông nên chị H đã nộp xong án phí.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hoặc niêm yết bản án hợp lệ.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự./.

Cỡ chữ