vanban.org

Bản án 25/2024/DS-PT — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản

TAND tỉnh Hà Giang Tuyên án 17/12/2024 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 17/12/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

hông ch p nhận kháng cáo của ông Nguyễn Đức T. Giữ nguyên các quyết định của Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2024/DS-ST ngày 11-09-2024 của Toà án nhân dân huyện M, tỉnh Hà Giang.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể t ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Về án phí: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Nguyễn Đức T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản — án dân sự — "Nguyễn Đức Thọ - Sùng Chứ Dia"
  • Tòa quyết gì? hông ch p nhận kháng cáo của ông Nguyễn Đức T. Giữ nguyên các quyết định của Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2024/DS-ST ngày 11-09-2024 của Toà án nhân dân huyện M, tỉnh Hà Giang.
  • Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÀ GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2024/DS-PT
Ngày: 17-12-2024
V/v “Yêu cầu bồi thường danh
dự do bị kiện oan, bồi thường chi
phí đi lại, thu nhập bị mất do đến
Toà án làm việc, bồi thường thiệt
hại do mất thu hoạch trên đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Mỹ Lệ.

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Xuân;

Ông Lâm Anh Luyện

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thảo Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Dân - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 17/2024/TLPT-DS, ngày 17 tháng 10 năm 2024 về “Yêu cầu bồi thường danh dự do bị kiện oan, bồi thường chi phí đi lại đến Toà án để làm việc, bồi thường mất thu nhập do đến Toà án làm việc, bồi thường do mất thu hoạch trên đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 01/2024/DS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Hà Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 30/2024/QĐ-PT ngày 02 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Đức T, sinh năm 1961; địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện M, tỉnh Hà Giang, có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Xuân Q, Luật sư cộng tác viên của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hà Giang, có mặt.

- Bị đơn: Ông Sùng Chứ D, sinh năm 1959; địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện M, tỉnh Hà Giang, có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Cao Xuân B, Luật sư cộng tác viên của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hà Giang, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lục Thị Lảng, sinh năm 1962, địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện M, tỉnh Hà Giang, vắng mặt.

Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Nguyễn Đức T.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Đức T trình bày: Ông và ông Sùng Chứ D ảy ra tranh ch p đ t đai t năm 2014 và đ được UBND N phối hợp cùng các cơ quan chuyên môn của huyện M hòa giải nhiều lần nhưng không thành. Đến năm 2021 ông D đ khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh ch p buộc ông phải trả cho ông D hai thửa đ t, một thửa có diện tích 1.401m2, một thửa diện tích 2.335,9m2. Vụ án đ được Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang giải quyết b ng bản án sơ thẩm số 06/2022/DS-ST ngày 19/8/2022 và Tòa án nhân dân c p cao tại Hà Nội giải quyết b ng bản án phúc thẩm số 104/2023/DS- T ngày 06/3/2023. Toà án đ bác yêu cầu khởi kiện của ông D, công nhận quyền sử dụng đ t của ông đối với diện tích 1.401m2 nhưng ông D không chịu trả đ t cho ông vẫn tiếp tục canh tác và làm nhà ở trên diện tích đ t đó. Do ông D khởi kiện không đúng nên đ làm ảnh hưởng đến quyền lợi, thiệt hại về kinh tế cho gia đình ông vì phải đi theo kiện. Nay ông khởi kiện yêu cầu ông Sùng Chứ D b i thường thiệt hai cho ông do bị kiện oan số tiền 50.000.000đ; b i thường do m t thu hoạch trong hai thửa đ t (th s

Đ s

và th s

Đ s

do

huyện

o ạc cấp cho ông T) ông D chiếm đ t của ông sử dụng t năm 2014 đến năm 2023 là 60.000.000 đ ng; b i thường m t thu nhập do đi lại đến Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang và Tòa án nhân dân c p cao tại Hà Nội số tiền 22.120.000đ; b i thường chi phí đi lại đến Tòa án tỉnh Hà Giang 08 lần số tiền 25.000.000đ và 02 lần làm việc tại Tòa án nhân dân c p cao tại Hà Nội số tiền 25.000.000đ. Tổng cộng yêu cầu ông D phải b i thường số tiền: 182.000.000đ.

Tại biên bản l y lời khai ngày 23/01/2024 ông Nguyễn Đức T trình bày: Yêu cầu ông Sùng Chứ D b i thường cho ông số tiền 50.000.000đ do bị kiện oan; b i thường m t thu hoạch trên đ t t 2014 đến 2023 là 60.000.000đ; b i thường chi phí đi lại đến Tòa án nhân dân tỉnh 8.910.000đ; b i thường chi phí đi lại đến Tòa án nhân dân c p cao tại Hà Nội 7.180.000đ; b i thường m t thu nhập do phải đi lại đến Tòa án làm việc là 8.400.000đ. Tổng cộng yêu cầu ông D phải b i thường số tiền 134.490.000đ. Ngoài ra ông T còn yêu cầu ông D b i thường chi phí đi lại, m t thu nhập của vợ ông là bà Lục Thị L và con gái là chị Nguyễn Thị L số tiền 1.590.000đ/người.

Tại phiên h p kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ông Nguyễn Đức T trình bày: Yêu cầu ông Sùng Chứ D phải b i thường cho ông do bị kiện oan 50.000.000đ; b i thường do m t thu hoạch trên đ t 60.000.000đ; b i thường m t thu nhập trong quá trình giải quyết vụ án 5.400.000đ; b i thường chi phí đi lại làm việc tại Tòa án nhân dân tỉnh g m: Ông T số tiền 14.310.000đ, bà Lục Thị L số tiền 1.590.000đ và chị Nguyễn Thị L số tiền 1.590.000đ; b i thường chi phí đi lại làm việc tại Tòa án nhân dân c p cao tại Hà Nội 3.370.000đ. Tổng số tiền yêu cầu ông D phải b i thường là 136.260.000đ.

Tại v n ản tr nh ày kiến và iên ản lấy lời kh i ng ng hứ tr nh ày Ông mua đ t t ông Chá Vả L vào năm 2010 và ông canh tác liên tục t đó đến nay. Đến năm 2019 khi Uỷ ban nhân dân vào làm việc để hoà giải thì ông mới biết ông T đ được c p Gi y chứng nhận QSD đ t và đến tranh ch p đ t với ông. Đ t ông đ mua và sử dụng t năm 2010 đến nay, ông T được c p Gi y chứng nhận QSD đ t khi nào ông không biết, ông T cũng không canh tác, sử dụng diện tích đ t này, vì vậy nay ông T khởi kiện yêu cầu ông phải b i thường do bị kiện oan ông không ch p nhận, việc yêu cầu b i thường do bị m t thu hoạch t năm 2014 đến năm 2023 ông cũng không nh t trí vì thực tế ông là người trực tiếp sử dụng, canh tác liên tục trên diện tích đ t này t năm 2010 cho đến nay, ông T không có tài sản hay tr ng c y gì trên đ t; đối với yêu cầu b i thường chi phí đi lại đến Tòa án làm việc và m t thu nhập do đến Tòa án làm việc ông cũng không ch p nhận vì việc Toà án yêu cầu đến làm việc là quyền và ngh a vụ của đương sự khi tham gia tố tụng là ngang nhau và phải có mặt theo gi y triệu tập của tòa án được quy định tại Điều 70 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Do vậy các yêu cầu của ông Nguyễn Đức T là không có căn cứ, ông không ch p nhận.

Người c quy n l i ngh vụ liên qu n à ục Thị tr nh ày Bà là vợ của ông Nguyễn Đức T, do việc khởi kiện của ông D t năm 2022, bà phải đến Tòa án tỉnh Hà Giang làm việc 02 lần là 04 ngày (thu nhập 01 ngày công là 200.000đ/ngày); tiền v e 120.000đ/1 chiều; chi phí ăn uống 150.000đ/ngày; chi phí ở tr 120.000đ/1 lần đi. Tổng số tiền bà yêu cầu ông D phải b i thường cho bà là 2.120.000đ.

Tại iên ản lấy lời kh i ngày 1/ /

chi guyễn Thị ơ tr nh ày Chị là con gái ông Nguyễn Đức T, việc ông T khởi kiện yêu cầu ông D phải b i thường và có yêu cầu ông D phải b i thường cho chị số tiền chi phí đi lại, ăn ở để làm việc theo yêu cầu của Toà án, nhưng chị không có yêu cầu gì đối với ông D về việc buộc ông D phải b i thường cho chị.

Tại Bản án số 01/2024/DS-ST, ngày 11-9-2024 của Tòa án nhân dân huyện M đ quyết định: Căn cứ vào khoản 6 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 70; Điều 71; Điều 73; Điều 147; Điều 203; Điều 217; Điều 227; Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 588; Điều 589 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 12, Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên ử:

1. Đình chỉ đối với yêu cầu của nguyên đơn ông Nguyễn Đức T yêu cầu bị đơn ông Sùng Chứ D b i thường chi phí đi lại trong quá trình làm việc tại tòa án (Tòa án tỉnh Hà Giang 8.910.000 đ ng và Tòa án c p cao tại Hà Nội số tiền 7.180.000 đ ng) tổng số tiền 16.090.000 đ ng và yêu cầu b i thường do m t thu nhập trong quá trình giải quyết vụ án số tiền 8.400.000 đ ng.

2. Đình chỉ đối với yêu cầu của nguyên đơn ông Nguyễn Đức T đòi b i thường do m t thu hoạch trên diện tích đ t 2.335,9m2 tại thửa số 07 thuộc GCN QSDĐ số BV667455.

3. Đình chỉ đối với yêu cầu của người có quyền lợi, ngh a vụ liên quan bà Lục Thị L yêu cầu ông Sùng Chứ D b i thường số tiền: 2.120.000 đ ng.

4. hông ch p nhận yêu cầu khởi kiện do bị kiện oan của nguyên đơn ông Nguyễn Đức T đòi ông Sùng Chứ D phải b i thường số tiền 50.000.000 đ ng.

5. hông ch p nhận yêu cầu b i thường do m t thu hoạch trên diện tích đ t 1.404m2 n m trong thửa đ t số 96 GCNQSDĐ số BV667222 t năm 2014 đến 2024 (tổng 10 năm 8 tháng) số tiền 21.000.000 đ ng.

6. hông ch p nhận yêu cầu khởi kiện bổ sung buộc ông Sùng Chứ D ch m dứt việc canh tác trên diện tích đ t 1.401m2 n m trong thửa số 96 GCNQSDĐ số BV667222 do UBND huyện M o Vạc c p cho gia đình ông và tự giác tháo d nhà cửa, chu ng trại, tài sản trên đ t, khôi phục lại hiện trạng đ t ban đầu trả lại cho ông T.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng, ngh a vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Trong hạn luật định, ngày 22/9/2024 ông Nguyễn Đức T có đơn kháng cáo với nội dung, ông không nh t trí với bản án sơ thẩm đ tuyên. Đề nghị c p phúc thẩm em t buộc ông Sùng Chứ D phải b i thường thiệt hai cho ông do bị m t thu nhập trên diện tích đ t 1.401m2 (n m trong gi y chứng nhận QSD đ t số BV 667.222, tờ bản đ số 02 do UBND huyện M c p ngày 10/12/2014), vì ông D l n chiếm sử dụng trái ph p đ t của ông nên ông không thể canh tác được dẫn đến m t thu nhập của ông t năm 2014 đến nay.

Tại phiên toà phúc thẩm: Nguyên đơn ông Nguyễn Đức T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đ ng xét xử xem xét buộc ông Sùng Chứ D phải b i thường thiệt hại cho ông do bị m t thu nhập trên thửa đ t 1.401 m2 t năm 2014 đến năm 2023 là 11 năm, số tiền b i thường được tính theo Công văn số 103, ngày 27/6/2024 của hòng Nông nghiệp và TNT huyện M là 5.000.000đ/1 năm (chưa bao g m kh u tr chi phí sản u t). Ông Nguyễn Đức T đề nghị HĐXX xem xét và quyết định trên cơ sở mức giá phòng Nông nghiệp huyện M cung c p và kh u tr đi chi phí sản u t để buộc ông D phải trả tiền b i thường cho ông. Ngoài ra ông T còn đề nghị HĐXX buộc ông Sùng Chứ D ch m dứt việc canh tác trên diện tích đ t 1.401m2 n m trong thửa số 96 Giaasy chứng nhận QSD đ t số BV667222, do UBND huyện M o Vạc c p cho gia đình ông và tự tháo d nhà cửa, chu ng trại, tài sản trên đ t, khôi phục lại hiện trạng đ t ban đầu trả lại cho ông T.

Bị đơn ông Sùng Chứ D trình bày: Ông giữ nguyên quan điểm không nh t trí với yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, ông đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm. Đề nghị c p phúc thẩm em t giải quyết theo quy định của pháp luật vì thực tế ông T không tr ng c y gì trên diện tích đ t này, ông D mới là người trực tiếp sử dụng đ t và canh tác hàng năm trên đ t t năm 2010 đến nay, năm 2010 khi ông mua đ t của ông Chá Vả L và cho máy cuốc về san đ t mới có mặt b ng để canh tác và sử dụng như hiện nay.

Tại phiên toà phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Giang tham gia phiên toà phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án, Hội đ ng xét xử, Thư ký phiên toà đ thực hiện đúng quy định về thụ lý vụ án, thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, quyết định đưa vụ án ra xét xử và giao h sơ để Viện kiểm sát nghiên cứu đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Ông T kháng cáo vì cho r ng Bản án sơ thẩm không buộc ông D phải b i thường thiệt hại do l n chiếm đ t trái phép, làm m t thu nhập trên đ t của ông là chưa bảo đảm đảm quyền lợi hợp pháp và chính đáng của ông. Nhưng trong phần nhận định của toà án, mục [4.3] của Bản án sơ thẩm, đ phân tích “Tại u i em t thẩm định tại ch ngày tháng n m

, ông guyễn Đức T và ng ng hứ đ u kh ng định ông D đ trồng ng trên diện tích đất 1 1m2 n m trong th đất s

iấy chứng nhận QSD đất s

t n m 1 đến n y Theo quy định tại Đi u

và khoản Đi u

Bộ luật dân sự th thiệt hại do tài sản ị m phạm là l i ích g n li n v i việc s dụng, kh i thác tài sản ị giảm s t hư vậy, t khi đư c cấp Giấy chứng nhận QSD đất cho đến n y ông T chư c nh tác trên phần đất này và c ng kh ng đư r đư c tài liệu để chứng minh thiệt hại cụ thể ơn n đến n m 1 m i phát sinh tr nh chấp và đư c

h giải. Do vậy đ i v i yêu cầu này củ ông T kh ng c c n cứ để chấp nhận”. Trong quá trình giải quyết ở c p phúc thẩm, ông T cũng không chứng minh được việc Tòa án c p sơ thẩm áp dụng các căn cứ pháp luật làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của ông. Do đó, không có căn cứ ch p nhận nội dung kháng cáo. Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2024/DS-ST ngày 11/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Hà Giang; Miễn án phí phúc thẩm cho ông Nguyễn Đức T theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong h sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, các quy định của pháp luật, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Giang tham gia phiên toà. Hội đ ng xét xử (HĐXX) phúc thẩm nhận định:

Về tố tụng: Kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Đức T trong thời hạn luật định là hợp lệ, phù hợp quy định tại Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được ch p nhận để xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. Tại phiên toà phúc thẩm người có quyền lợi ngh a vụ liên quan bà Lục Thị L có đơn in t ử vắng mặt. Xét th y việc vắng mặt của bà L không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, do đó HĐXX tiếp tục xét xử theo quy định.

Về nội dung: Đối với nội dung kháng cáo của ông Nguyễn Đức T yêu cầu ông Sùng Chứ D phải b i thường thiệt hại do ông D l n chiếm đ t làm cho ông bị m t thu nhập không canh tác được t năm 2014 đến năm 2023 (11 năm) trên thửa đ t 1.401 m2 n m trong Gi y chứng nhận QSD đ t số BV 667222 mang tên hộ ông Nguyễn Đức T và bà Lục Thị L do UBND huyện M c p ngày 10/12/2014. Số tiền yêu cầu b i thường đề nghị tính theo Công văn số 103, ngày 27/6/2024 của hòng Nông nghiệp và TNT huyện M là 5.000.000đ/1 năm (chưa bao g m kh u tr chi phí sản u t) 11 tháng = 55.000.000đ. Ông Nguyễn Đức T đề nghị HĐXX em t và quyết định trên cơ sở mức giá phòng Nông nghiệp huyện M cung c p và kh u tr đi chi phí sản u t hợp lý để buộc ông D phải trả tiền b i thường cho ông.

X t th y tại Bản án số 06/2022/DS-ST ngày 19/8/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang tại phần trình bày của ông Nguyễn Đức T có trình bày năm 2011 ông tr ng được một vụ ngô thì ông D bắt đầu tranh ch p, tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm ông T trình bày t năm 2011 đến năm 2014 ông cho ông D mượn để canh tác. Trước khi ông D mượn canh tác thì ông cho ông Chá Sáu H thuê canh tác 03 năm giá thuê 450.000 đ ng t năm thứ tư trở đi do đ t bạc màu năng u t ngô k m nên không l y tiền thuê của ông Chá Sáu H nữa, đến năm 2002 ông l y lại một phần đ t cho ông H mượn để tr ng chuối và cây rau lợn. Mặt khác tại buổi em t thẩm định tại ch ngày 20 tháng 6 năm 2024 ông Nguyễn Đức T và ông Sùng Chứ D đều kh ng định ông D đ tr ng ngô trên diện tích đ t 1.401m2 n m trong thửa đ t số 96 Gi y chứng nhận QSD đ t số BV 667222 t năm 2010 đến nay. Theo quy định tại Điều 584 và khoản 2 Điều 589 Bộ luật dân sự thì thiệt hại do tài sản bị âm phạm là lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị giảm sút. Như vậy, t khi được c p Gi y chứng nhận QSD đ t cho đến nay ông T chưa canh tác trên phần đ t này và cũng không đưa ra tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh thiệt hại cụ thể. Hơn nữa đến năm 2019 giữa hai bên mới phát sinh tranh ch p và được UBND hòa giải, việc hoà giải không thành ông D mới khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết tranh ch p đ t đai. Do vậy Toà án c p sơ thẩm đ nhận định đối với yêu cầu b i thường thiệt hại do m t thu nhập là không có căn cứ, không ch p nhận yêu cầu khởi kiện của ông T là có phù hợp.

Tại phiên toà ông T đề nghị HĐXX em t buộc ông Sùng Chứ D ch m dứt việc canh tác trên diện tích đ t 1.401m2 n m trong thửa số 96 Gi y chứng nhận QSD đ t số BV667222, do UBND huyện M c p cho gia đình ông và tự tháo d nhà cửa, chu ng trại, tài sản trên đ t, khôi phục lại hiện trạng đ t ban đầu trả lại cho ông T. HĐXX t th y tại Bản án dân sự sơ thẩm số 06/2022/DS-ST, ngày 19/8/2022 của Toà án nhân dân tỉnh Hà Giang đ tuyên "2. Không chấp nhận yêu cầu của ông Sùng Chứ D, bà Giàng Thị M v việc: Buộc ông Nguyễn Đức T trả lại 1.401m2 đất n m trong th a 96 Giấy chứng nhận

đất s

, do

huyện o ạc cấp cho v chồng ông Nguyễn Đức T, bà Lục Thị L........." và tại Bản án số 104/2023/DS-PT, ngày 06/3/2023 của Toà án nhân dân c p cao tại Hà Nội đ quyết định: "1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Sùng Chứ D, bà Giàng Thị M, gi nguyên các quyết định của bản án dân sự sơ thẩm s 06/2022/DS-ST, ngày 19/8/2022 của Toà án nhân dân tỉnh Hà Giang.......". Bản án dân sự phúc thẩm của Toà án nhân dân c p cao tại Hà Nội đ có hiệu lực pháp luật, ông T có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền thi hành bản án đ có hiệu lực của Toà án, ông không còn quyền khởi kiện và Toà án cũng không được quyền giải quyết đối với yêu cầu này của ông. Nguyên đơn ông Nguyễn Đức T giữ nguyên kháng cáo nhưng không đưa ra được tài liệu, chứng cứ nào chứng minh ông Sùng Chứ D đ gây thiệt hại cho ông T.

T những phân tích trên xét th y toà án c p sơ thẩm đ không ch p nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Đức T, bà Lục Thị L về việc yêu cầu ông Sùng Chứ D phải b i thường thiệt hại do m t thu nhập không canh tác được t năm 2014 đến năm 2023 trên thửa đ t 1.401 m2 là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Do đó không có căn cứ ch p nhận toàn bộ kháng cáo của ông Nguyễn Đức T, cần giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 01/2024/DS-ST ngày 11-9-2024 của Toà án nhân dân huyện M, tỉnh Hà Giang.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Giang tham gia phiên toà phù hợp với nhận định của HĐXX phúc thẩm do đó được ch p nhận.

Về án phí phúc thẩm: Mặc dù kháng cáo không được ch p nhận nhưng ông Nguyễn Đức T là người cao tuổi, sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, có đơn in miễn án phí nên HĐXX ch p nhận miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Nguyễn Đức T theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ Luật tố tụng dân sự 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội

Tuyên xử:

1. hông ch p nhận kháng cáo của ông Nguyễn Đức T. Giữ nguyên các quyết định của Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2024/DS-ST ngày 11-09-2024 của Toà án nhân dân huyện M, tỉnh Hà Giang.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể t ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

2. Về án phí: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Nguyễn Đức T.

3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể t ngày tuyên án./.

Cỡ chữ