vanban.org

Bản án 25/2023/HSST — Hình sự

TAND Q. Bắc Từ Liêm, TP. Hà Nội Tuyên án 02/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Cấn Thanh Đ phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Cấn Thanh Đ 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Đông về UBND phường P, quận Bắc Từ Liêm, TP Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cấn Thanh Đ - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Cấn Thanh Đ phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BẮC TỪ LIÊM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2023/HSST
Ngày: 17-02-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Nga

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Việt

Bà Nguyễn Thị Hồng Huyền

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyên – Kiểm sát viên

Ngày 17 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 08/2023/TLST- HS ngày 16 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2023/QĐXXST-HS, ngày 30 tháng 01 năm 2023, đối với bị cáo:

CẤN THANH Đ, Sinh năm: 1987, Giới tính: Nam. Nơi ĐKHKTT: tổ 6, phường P, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Là đảng viên thuộc Đảng ủy phường P, quận Bắc Từ Liêm, TP.Hà Nội. Hiện bị đình chỉ sinh hoạt đảng. Trình độ Văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Họ và tên bố: Cấn Văn Q, sinh năm: 1956; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị T, sinh năm: 1959; Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ ba. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại - Có mặt tại phiên tòa.

Đại diện hợp pháp của bị cáo: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1959; Nơi ĐKHKTT: tổ 6, phường P, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội (có mặt tại phiên tòa)

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Chu Thị Phương T1 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý thành phố Hà Nội (có mặt tại phiên tòa).

Người bị hại: Anh Nguyễn Việt T2, sinh năm: 1994; Nơi ĐKHKTT tại: phường N, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội

(Vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 00 phút, ngày 08/8/2022, Cấn Thanh Đ đi bộ đến cửa hàng sửa chữa điện thoại số 43, ngõ 187 Phú Diễn, phường P, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội của anh Nguyễn Việt T2 để hỏi vay tiền nhưng anh T2 không đồng ý. Đ phát hiện thấy ví tiền màu nâu ở trên bàn phía sau lưng anh T2. Đ thò tay lấy cắp số tiền 6.000.000 đồng, 01 đăng ký xe mô tô nhãn hiệu Vespa màu trắng, BKS: 29T1-803.42 ở trong ví của anh T2 và chùm chìa khóa xe máy để ở trên bàn máy tính anh T2 đang làm việc rồi ra ngoài mở khóa chiếc xe máy Vespa màu trắng, BKS: 29T1-803.42 của anh T2 dựng ở trước cửa hàng. Đ điều khiển xe máy trộm cắp của anh T2 đi đến số 26B ngõ 86 Chùa Hà, phường Quan Hoa, quận Cầu giấy, thành phố Hà Nội gặp và bán chiếc xe máy cho anh Trương Hoài N (sinh năm: 1993; HKTT: phường Xuân Tảo, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội) được 25.000.000 đồng. Anh N có hỏi Đ về nguồn gốc xe thì Đ nói là xe của bạn Đ muốn bán. Toàn bộ số tiền 6.000.000 đồng và số tiền bán xe Đ đã tiêu sài hết.

Vật chứng thu giữ:

- 01 xe máy nhãn hiệu Piaggio màu trắng, BKS: 29T1-80342, số máy M82EM5042431, số khung 2511JV029826, số loại Vespa.

- 01 đăng ký xe máy số 051444, tên chủ xe Nguyễn Việt T2.

- 01 bản photo giấy bán xe giữa anh N và anh Đ.

Tại Kết luận định giá tài sản số 438 ngày 06/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu PIAGGIO, BKS: 29T1-803.42, số khung 2511JV029826, số máy M82EM5042431 đã qua sử dụng có giá trị 27.000.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 09/CT-VKSBTL ngày 11/01/2023, Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm truy tố Cấn Thanh Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận do nợ nần, người ta đến nhà đòi nợ quá nhiều lần, ép bị cáo trả tiền nên bị cáo đã có hành động lấy tiền và xe máy của anh T2 để bán lấy tiền trả nợ. Sau khi lấy được tài sản của anh T2, bị cáo và gia đình đã cố gắng khắc phục trả cho anh T2 tiền rồi nên mong tòa xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Giám hộ cho bị cáo là bà Nguyễn Thị T trình bày: Đ trước đây học rất giỏi, được vào làm trong quân đội và có chức danh ở bộ phận hậu cần. Không hiểu lý do gì mà Đ lại trở thành một người hoang tưởng như hiện nay; Quyết định của Tòa án xác định Đ bị hạn chế năng lực hành vi do bị thần kinh. Đ có hành vi trái pháp luật là do một phần sự giám sát lơ là của gia đình. Gia đình đã khắc phục được thiệt hại cho bị hại và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Cấn Thành Đ về tội trộm cắp tài sản và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm q, b, i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt từ 12-15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24-30 tháng.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày luận cứ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi trộm cắp tài sản của anh T2. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật. Bị cáo có nhân thân tốt, được giáo dục, học tập tốt và từng làm trong quân đội và có chức vụ. Do phát sinh bệnh thần kinh nên bị cáo về phục viên và có những hành động không phù hợp với pháp luật như việc chiếm đoạt tài sản của người khác mà phải đứng trước tòa như hiện nay. Bị cáo và gia đình đã khắc phục thiệt hại, người bị hại đã có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng mức phạt cải tạo tại địa phương thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an quận Bắc Từ Liêm, TP. Hà Nội; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, TP. Hà Nội: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; không có khiếu nại tố cáo gì.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản thu giữ vật chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 08/8/2022, tại cửa hàng sửa chữa điện thoại số 43, ngõ 187 Phú Diễn, phường P, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội, lợi dụng sự sơ hở của anh Nguyễn Việt Thái, Cấn Thanh Đ đã trộm cắp được 6.000.000 đồng và 01 chiếc xe máy Piaggio Vespa màu trắng, BKS: 29T1-803.42 trị giá 27.000.000 đồng của anh Nguyễn Việt T2. Tổng trị giá tài sản mà Đ trộm cắp là 33.000.000 đồng.

Hành vi lợi dụng sự sơ hở của của chủ tài sản, lén lút chiếm đoạt chiếc tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000đ đến dưới 50.000.000đ là vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo Đ là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo hộ, gây mất trật tự trị an xã hội và làm hoang mang trong quần chúng nhân dân. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm truy tố bị cáo về tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn; bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội, bản thân và gia đình đã tích cực khắc phục thiệt hại và người bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên bị cáo được áp dụng điểm b, i, s khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Bản thân Đ đã có thời gian phục vụ trong quân đội, hiện có quyết định thôi phục vụ tại ngũ, hưởng chế độ bệnh binh vì tỷ lệ mất sức lao động do bị tâm thần là 65%. Tại Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 50 ngày 30/8/2022 của Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm đã căn cứ Kết luận giám định sức khỏe tâm thần của Viện Pháp y tâm thần Trung ương “ Cấn Thanh Đông có khó khăn trong nhận thức và điều khiển hành vi”, đã quyết định Tuyên bố Cấn Thanh Đ là người khó khăn trong nhận thức và điều khiển hành vi nên được áp dụng điểm q khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Gia đình bị cáo có công với cách mạng nên được hưởng tình tiết khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, để bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo, phòng ngừa chung và phù hợp với đề xuất cho bị cáo hưởng án treo của Viện kiểm sát.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản thỏa đáng, không có ý kiến gì nên Tòa không xét.

Về xử lý vật chứng: 01 chiếc xe máy Piaggo BKS: 29T1-803.42 và giấy tờ xe, cơ quan điều tra đã trả lại cho người bị hại là có căn cứ.

Bị cáo, người bị hại được quyền kháng cáo và phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, q, s khoản 1 Điều 51, Điều 52 và Điều 65 Bộ luật hình sự.

- Áp dụng Điều 47; Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015;

- Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Cấn Thanh Đ phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.

2. Xử phạt: Cấn Thanh Đ 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Đông về UBND phường P, quận Bắc Từ Liêm, TP Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thì việc thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

3. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm

4. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kết quả xét xử.

Cỡ chữ