vanban.org

Bản án 25/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai Tuyên án 20/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Vũ Hồng Q phạm tội: “ Trộm cắp tài sản”

Án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm. Bị cáo Vũ Hồng Q phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí Hình sự sơ … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Hồng Q phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vũ Hồng Q phạm tội: “ Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Luật Thủy sản số 18/2017/QH14; Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hàn…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÁT XÁT
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2023/HSST
Ngày 20 tháng 6 năm 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁT XÁT, TỈNH LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Duy Chiến.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Xuân Hùng;

2. Bà Đinh Thị Hạnh;

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Minh Lý – Thư ký Toà án nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát tham gia phiên toà: Ông Nông Văn Nghiệp - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai xét xử công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số 19/2023/HSST ngày 25 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2023/HSST ngày 9 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ tên: Vũ Hồng Q, sinh ngày 12/11/1984; Tên gọi khác: không; Nơi cư trú: tổ 6, phường Duyên Hải, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 06/12; Con ông: Vũ Văn D, sinh năm 1953 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1957; có vợ: Lý Thị B, sinh năm 1988 (đã ly hôn năm 2021); Con có 01 con sinh năm 2011. Tiền án: không.Tiền sự: 01 tiền sự, ngày 27/11/2020 bị Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai ra Quyết số 123/QĐ-TA áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào sơ sở cai nghiện bắt buộc, ngày 20/9/2021 bị cáo chấp hành xong.

Nhân thân: Tại Bản án số 06/2009/HSST ngày 16/01/2009 của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai đã xử phạt Vũ Hồng Q 2 (hai) năm tù, về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, phạt bổ sung 5.000.000 đồng sung quỹ nhà nước, ngày 25/8/2010 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù, ngày 17/7/2014 bị cáo đã thi hành xong khoản tiền phạt và án phí hình sự sơ thẩm, tính đến ngày phạm tội bị cáo đã được xóa án tích;

- Ngày 15/5/2007 bị cáo bắt buộc tập trung cai nghiện tại Trung tâm chữa bệnh giáo dục – Lao động thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai theo Quyết định số 910/UBND – QĐ của UBND thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai với thời hạn 12 tháng đến ngày 14/5/2008 bị cáo đã chấp hành xong; Tính đến ngày phạm tội bị cáo được coi là chưa bị xử lý hành chính.

- Ngày 24/01/2017 bị Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, theo quyết định số 07/2017/QĐ -TA của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai với thời hạn là 18 tháng, ngày 24/7/2018 bị cáo đã chấp hành xong; Tính đến ngày phạm tội bị cáo được coi là chưa bị xử lý hành chính.

- Ngày 27/11/2020 bị Áp dụng biện pháp xử phạt hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quyết định số 123/QĐ-TA ngày 27/11/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, đến ngày 06/10/2021 bị cáo đã chấp hành xong, đối với tiền sự này tính đến ngày phạm tội chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 28/3/2023, tạm giam ngày 06/4/2023. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai. Có mặt.

Bị hại: Anh Lý Văn H, sinh ngày 28/9/1992;

Nơi cư trú: thôn B, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị H.

Nơi cư trú: tổ 5, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 21/3/2023 Vũ Hồng Q trên đường đi bộ từ thị trấn Bát Xát về nhà tại tổ 6, phường Duyên Hải, thành phố Lào Cai. Khi đến thôn K, xã Q, huyện B, tỉnh Lào Cai, Quân rẽ vào quán cắt tóc Hoàng Tây để xin nước uống thì nhìn thấy anh L là chủ quán cắt tóc đang nằm ngủ trên bàn gội đầu, quay lưng ra ngoài, trong quán không có ai khác. Quân ngồi vào ghế, rót nước uống tại bàn uống nước trước hiên nhà, khi đứng dậy thấy bên cạnh anh Hoàng có 01 chiếc điện thoại Iphone XSMAX màu đen liền nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại để bán lấy tiền tiêu xài. Quân đi đến cầm chiếc điện thoại cho vào trong túi quần bên phải rồi nhanh chóng đi ra ngoài, đi đến khu vực ngã ba xã Quang Kim thuê xe ôm do ông Bùi Đức Tuấn chở ra thành phố Lào Cai. Trên đường đi Quân tháo 01 sim và ốp điện thoại vứt dọc đường. Khi đi đến đường Hoàng Liên đoạn đối diện Đài tưởng niệm, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, Quân xuống xe và trả cho ông Tuấn 50.000 đồng. Quân bỏ chiếc điện thoại ra thì thấy chiếc điện có cài mật khẩu không mở được, Quân đi vào cửa hàng điện thoại Long Hải, tại số nhà 229, đường Hoàng Liên, phường Cốc Lếu, thành phố Lào Cai, đưa chiếc điện thoại cho chị Nguyễn Thị Hải làm tin để vay 500.000 (năm trăm nghìn) đồng. Sau đó Quân đi bộ về nhà và tiêu xài cá nhân hết số tiền trên.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 05/KL.HĐĐG ngày 04/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Bát Xát xác định: 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE XS MAX, màu đen, số máy MT5V2LL/A, số IMEI 35 727509 8483933, máy cũ, đã qua sử dụng trị giá 6.000.000 (sáu triệu) đồng.

Tại bản Kết luận giám định số 14/KL - KTSĐT ngày 28/4/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Lào Cai đối với 02 tệp video ghi lại hình ảnh Quân thực hiện hành vi trộm cắp tài sản kết luận: Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 02 tệp video lưu trữ trong đĩa DVD gửi giám định.

Bản cáo trạng số 19/CT - VKSBX ngày 25 tháng 5 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Vũ Hồng Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như bản Cáo trạng. Đề nghị hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Vũ Hồng Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 tuyên phạt bị cáo Vũ Hồng Q từ 9 (chín) tháng đến 1 (một) năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là anh Lý Văn Hoàng đã nhận lại tài sản, không yêu cầu đề nghị gì về trách nhiệm dân sự; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thị Hải cho Vũ Hồng Q số tiền 500.000 đồng mà Quân đã vay và không yêu cầu đề nghị gì khác.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo qui định pháp luật.

Bị cáo Vũ Hồng Q thành khẩn khai báo, bị cáo hối hận về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử, xử mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà hôm nay bị cáo Vũ Hồng Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu khác đã có trong hồ sơ.

Như vậy khoảng 15 giờ 30 phút ngày 21/3/2023 Vũ Hồng Q trên đường đi bộ từ thị trấn Bát Xát về nhà tại tổ 6, phường Duyên Hải, thành phố Lào Cai đã rẽ vào quán cắt tóc Hoàng Tây để xin nước uống thì nhìn thấy anh Lý Văn Hoàng là chủ quán cắt tóc đang nằm ngủ bên cạnh để chiếc điện thoại Iphone XSMAX màu đen, bị cáo đã cầm chiếc điện thoại cho vào trong túi quần bên phải rồi nhanh chóng đi ra ngoài, hành vi của bị cáo lợi dụng sự sơ hở của người khác, tài sản không có người trông coi đã lén lút chiếm đoạt, như vậy bị cáo đã có hành vi trộm cắp tài sản, tài sản bị cáo trộm cắp là chiếc điện thoại Iphone XSMAX màu đen có giá trị 6.000.000 đồng. Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 173 Bộ Luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng pháp luật.

Xét hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp tài sản của công dân, gây mất trật tự trị an ở địa phương. . .

Xét về tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, bản thân bị cáo là người nghiện chất ma túy.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, khi phạm tội bị cáo gây thiệt hại không lớn, tài sản đã được trả lại cho bị hại. Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự qui định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ Luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về nhân thân của bị cáo:

Bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, đã bị xử phạt về tội tàng trữ trái phép chất ma túy và đưa đi cai nghiện bắt buộc nhiều lần, cụ thể:

- Tại Bản án số 06/2009/HSST ngày 16/01/2009 của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai đã xử phạt Vũ Hồng Q 2 (hai) năm tù, về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, phạt bổ sung 5.000.000 đồng sung quỹ nhà nước, ngày 25/8/2010 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù, ngày 17/7/2014 bị cáo đã thi hành xong khoản tiền phạt và án phí hình sự sơ thẩm, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 70 Bộ luật hình sự, bị cáo đương nhiên được xóa án tích;

- Ngày 15/5/2007 bị cáo bắt buộc tập trung cai nghiện tại Trung tâm chữa bệnh giáo dục – Lao động thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai theo Quyết định số 910/UBND – QĐ của UBND thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai với thời hạn 12 tháng đến ngày 14/5/2008 bị cáo đã chấp hành xong; căn cứ khoản 2 Điều 7 Luật xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 54/2014/QH13, Luật số 18/2017/QH14 và Luật số 67/2020/QH14, tính đến ngày phạm tội bị cáo được coi là chưa bị xử lý hành chính.

- Ngày 24/01/2017 bị Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, theo quyết định số 07/2017/QĐ -TA của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, với thời hạn là 18 tháng, ngày 24/7/2018 bị cáo đã chấp hành xong; căn cứ khoản 2 Điều 7 Luật xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 54/2014/QH13, Luật số 18/2017/QH14 và Luật số 67/2020/QH14, tính đến ngày phạm tội bị cáo được coi là chưa bị xử lý hành chính.

- Ngày 27/11/2020 bị cáo bị Áp dụng biện pháp xử phạt hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 123/QĐ-TA ngày 27/11/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, đến ngày 06/10/2021 bị cáo đã chấp hành xong, đối với tiền sự này tính đến ngày phạm tội chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính.

Đối với quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa xét thấy là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là anh Lý Văn Hoàng đã nhận lại tài sản là 01 chiếc IPHONE XS MAX, màu đen, số máy MT5V2LL/A, số IMEI 35 727509 8483933, máy cũ, đã qua sử dụng vào ngày 07/4/2023, đối với 01 ốp điện thoại màu vàng cũ, 01 thẻ sim điện thoại, Vũ Hồng Q đã vứt trên đường ra thành phố Lào Cai, nay anh Hoàng xác định chiếc ốp điện thoại và thẻ sim không có giá trị, không yêu cầu định giá và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì về trách nhiệm dân sự; vì vậy Hội đồng xét xử không giải quyết.

Đối với chị Nguyễn Thị Hải là đã cho Vũ Hồng Q vay số tiền 500.000 đồng, nay chị Hải đã cho Vũ Hồng Q và không yêu cầu đề nghị gì khác, vì vậy Hội đồng xét xử không giải quyết.

Về vật chứng: Ngày 07/4/2023 Công an điều tra đã đã lại chiếc điện thoại bị mất cho chủ sở hữu là anh Lý Văn Hoàng là đúng quy định.

Đối với 01 ốp điện thoại màu vàng cũ, 01 thẻ sim điện thoại, Vũ Hồng Q khai đã vứt trên đường ra thành phố Lào Cai, xong không xác định được địa điểm cụ thể nên không thu giữ được, nên không đề cập giải quyết.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng” nhưng do bị cáo không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1.Tuyên bố bị cáo Vũ Hồng Q phạm tội: “ Trộm cắp tài sản”

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Vũ Hồng Q 9 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, ngày 28 tháng 3 năm 2023.

2. Án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Vũ Hồng Q phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại vắng mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ