vanban.org

Bản án 25/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thanh Trì, TP. Hà Nội Tuyên án 13/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lương Thị T phạm tội “Môi giới mại dâm”

hình sự 2015: Xử phạt bị cáo Lương Thị T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "môi giới mại dâm - phạm tội môi giới mại dâm (điều 328 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lương Thị T phạm tội “Môi giới mại dâm”
  • Căn cứ chính? Điều 328 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2023/HS-ST
Ngày: 13/3/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thắng

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Ah Đức

2. Ông Trần Văn Vinh

Thư ký phiên toà: Bà Đặng Mai Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện T

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên toà: Ông Tô

Xuân Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 3 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện T xét xử sơ thẩm

công khai vụ án hình sự thụ lý số: 15/2023/TLST-HSST ngày 16/02/2023 theo

Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2023/QĐXXST-HS ngày 02/3/2023 đối với

bị cáo:

Họ và tên: Lương Thị T; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1994; Giới tính:

Nữ; HKTT: S, V, Lào Cai; Chỗ ở: Không nơi cư trú nhất định; Quốc tịch: Việt

Nam; Dân tộc: X Phó; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp:

Lao động tự do; Họ và tên cha: Lương Ngọc X, sinh năm 1960; Họ và tên mẹ:

Nguyễn Thị L, sinh năm 1958; Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ tư;

Chồng: Sìn Văn A (Sinh năm: 1999). Bị cáo có 01 con nhỏ sinh năm 2020.

* Tiền án, tiền sự: không.

Đình chỉ bản số 21 lập ngày 20/12/2022 tại Công A huyện T, Thành phố

Hà Nội

Bị cáo bị bắt khẩn cấp tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 13/12/2022. Hiện bị

cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an T phố Hà Nội, có mặt tại

phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thi L, Trợ giúp viên pháp lý, Trung

tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước T phố Hà Nội (có mặt)

Người có quyền, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Phạm Ngọc L, sinh năm 2005 (vắng mặt)

Trú tại: xã Đ, huyện T, Hà Nội

2. Anh Lê Mạnh H, sinh năm 1990 (vắng mặt)

Trú tại: xã Đ, huyện T, Hà Nội

3. Chị Chảo Lở M, sinh năm 1999 (vắng mặt)

HKTT: Thôn K, xã S, huyện V, Lào Cai

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14h ngày 13/12/2022, Phạm Ngọc L (sinh năm: 2005; Chỗ ở: Đ, T,

Hà Nội) và Lê Mạnh H (sinh năm: 1990; Chỗ ở: Đ, T, Hà Nội) rủ nhau đi mua dâm tại nhà nghỉ B ở khu tập thể thức ăn chăn nuôi N, xã N, huyện T, Thành phố Hà Nội. Do có quen biết với Lương Thị T nên L gọi điện qua zalo cho T rủ T đi bán dâm cho L. Cả hai thỏa thuận T sẽ bán dâm cho L và T gọi thêm 01 gái bán dâm khác để bán dâm cho H giá bán dâm là 300.000 đồng/người/lượt, L sẽ cho thêm T 200.000 đồng tiền công gọi 01 gái bán dâm khác đến bán dâm cho H. Sau khi thỏa thuận xong, T rủ Chảo Lở M (sinh năm: 1999; HKTT: S, V, Lào Cai) là bạn cùng phòng trọ với T đi bán dâm cho H và được M đồng ý.

Đến khoảng 15h30 phút cùng ngày, T và M đến nhà nghỉ B ở khu tập thể

thức ăn chăn nuôi N, xã N, huyện T, T phố Hà Nội thì gặp L và H. Tại đây, L và H thuê phòng 204 và 103 để thực hiện việc mua bán dâm. Sau đó, T và L vào phòng 204 còn H, M vào phòng 103 để thực hiện hành vi mua bán dâm. Trong phòng 204 L đưa cho T số tiền 800.000 đồng bao gồm 600.000 đồng tiền bán dâm của T và M còn 200.000 đồng là tiền công T gọi nhân viên nữ đến bán dâm cho H.

Đến 16h00 ngày 13/12/2022, Tổ công tác Đội hình sự - Công A huyện T tiến

hành kiểm tra hành chính tại nhà nghỉ B ở khu tập thể thức ăn chăn nuôi N, xã N, huyện T, T phố Hà Nội, kết quả phát hiện tại phòng 204 có Lương Thị T và Phạm Ngọc L đang quan hệ tình dục; tại phòng 103 có Chảo Lở M và Lê Mạnh H đang quan hệ tình dục. Tang vật thu giữ gồm: thu giữ tại phòng 204 gồm 01 bao cao su đã qua sử dụng, số tiền 800.000 đồng, 01 điện thoại Iphone 8 plus, 01 chiếc điện thoại Samsung J2; thu giữ tại phòng 103 có 01 bao su đã qua sử dụng. Tại chỗ, T, L, H, M khai nhận nội dung vụ việc như đã nêu trên. Tổ công tác đưa các đối tượng cùng tang vật về trụ sở để đấu tranh, xử lý.

Quá trình điều tra, Lương Thị T khai nhận hành vi phạm tội của mình như

đã nêu trên. Ngoài việc bán dâm cho L, T đã môi giới để Chảo Lở M bán dâm cho Lê Mạnh H với giá 300.000 đồng, thu lời số tiền 200.000 đồng.

Đối với hành vi mua dâm của Phạm Ngọc L, Lê Mạnh H và hành vi bán

dâm của Chảo Lở M, Lương Thị T. Quá trình giải quyết vụ án, ngày 10/02/2023,

Công an huyện T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với L, H, M,

T theo quy định của pháp luật.

Quá trình điều tra xác định chủ nhà nghỉ B ở khu tập thể thức ăn chăn nuôi

N, xã N, huyện T, Thành phố Hà Nội là Anh Mai Ngọc Tú (sinh năm: 1989;

HKTT: K, Y, Ninh Binh), Anh Tú không biết các đối tượng trên đến thuê phòng

nghỉ để mua bán dâm với nhau nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T

không có cơ sở để xử lý.

Đối với 01 điện thoại Iphone 8 plus thu giữ của Lương Thị T, 01 chiếc điện

thoại Samsung J2 thu giữ của Phạm Ngọc L, quá trình điều tra xác định đây là

những chiếc điện thoại của các đối tượng trên dùng để liên lạc, thỏa thuận với

nhau việc mua bán dâm nên cần tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định của pháp

luật.

Đối với số tiền 800.000 đồng thu giữ của T, quá điều tra xác minh đây là số

tiền mua bán dâm và môi giới mại dâm nên cần tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy

định của pháp luật.

Tại bản cáo trạng số 14/CT-VKS-TT ngày 14/02/2023, Viện kiểm sát nhân

dân huyện T đã truy tố Lương Thị T về tội “Môi giới mại dâm” theo khoản 1 Điều

328 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo

trạng Viện kiểm sát đã công bố. Bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là

trái pháp luật và ăn năn hối cải. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét để bị cáo được

hưởng mức án nhẹ nhất.

Người bào chữa cho bị cáo đề nghị hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh của

bị cáo đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi, bị cáo ở vùng kinh tế khó khăn và

là dân tộc thiểu số nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, bị cáo đang bị HIV/AIDS,

cần tiếp tục điều trị bằng thuốc. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng

mức án đầu khung hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, thành phố Hà Nội tham gia phiên

tòa có quan điểm: giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lương Thị T về tội “Môi

giới mại dâm” theo khoản 1 Điều 328 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 328; điểm i, s khoản 1

Điều 51; điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo với mức án từ 08-10 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 4 điều 328 Bộ luật hình sự.

Về vật chứng:

- 01 điện thoại Iphone 8 plus thu giữ của Lương Thị T và 01 chiếc điện

thoại Samsung J2 thu giữ của Phạm Ngọc L được dùng để liên lạc, thỏa thuận với nhau việc mua bán dâm nên cần tịch thu sung công.

- Số tiền: 800.000 đồng thu giữ của T là tài sản do phạm tội mà có nên cần

tịch thu sung quỹ.

- Tịch thu tiêu hủy 02 bao cao su đã qua sử dụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

trAh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện T,

Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quA tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh và điều luật áp dụng:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm

tội của mình đúng như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện T đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người liên quA, người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

Hồi 16h00 ngày 13/12/2022, tại nhà nghỉ B ở khu tập thể thức ăn chăn nuôi

N, xã N, huyện T, T phố Hà Nội, Lương Thị T bán dâm cho Phạm Ngọc L và môi giới để Chảo Lở M bán dâm cho Lê Mạnh H với giá 300.000 đồng, thu lời số tiền 200.000 đồng. Khi các đối tượng đang thực hiện hành vi mua bán dâm thì bị Công A kiểm tra, bắt giữ.

Hành vi của bị cáo Lương Thị T đã đủ yếu tố cấu T tội “Môi giới mại dâm”

quy định tại khoản 1 Điều 328 của Bộ luật hình sự 2015. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, T phố Hà Nội truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo T khẩn khai

báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm

trọng nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều

51 Bộ luật hình sự.

Về trách nhiệm hình sự và biện pháp chấp hành hình phạt:

Bị cáo Lương Thị T đã trên 18 tuổi, bị cáo có đủ năng lực, nhận thức để

biết việc làm trung gian dẫn dắt để người khác thực hiện việc mua dâm, bán dâm

là vi phạm pháp luật. Nhưng xuất phát từ tư cách đạo đức kém và muốn kiếm tiền

bằng con đường bất chính, bị cáo đã thực hiện hành vi môi giới mại dâm. Hành

vi phạm tội của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý, mục đích thu lợi, xâm phạm

trật tự A toàn xã hội, vi phạm đạo đức, thuần phong mỹ tục, gây bức xúc trong

quần chúng nhân dân. Do vậy, cần áp dụng một mức hình phạt tương xứng với

hành vi phạm tội, nghiêm khắc với bị cáo, cách L bị cáo khỏi xã hội một thời

giamđể răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung. Khi lượng

hình, có xét đến các tình tiết giảm nhẹ để giảm một phần hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là

phạt tiền theo khoản 4 Điều 328 Bộ luật hình sự.

Xử lý vật chứng:

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước đối với số tiền 800.000 đồng thu giữ của bị

cáo là tài sản do phạm tội mà có.

- Tịch thu sung công 01 điện thoại Iphone 8 plus thu giữ của Lương Thị T;

01 chiếc điện thoại Samsung J2 thu giữ của Phạm Ngọc L được sử dụng vào việc

liên lạc để mua bán dâm.

- Tịch thu tiêu hủy 02 bao cao su đã qua sử dụng.

Án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy

định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lương Thị T phạm tội “Môi giới mại dâm”

2. Áp dụng khoản 1 Điều 328; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật

hình sự 2015:

Xử phạt bị cáo Lương Thị T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày

13/12/2022.

3. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

4. Xử lý vật chứng của vụ án:

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước đối với số tiền: 800.000 đồng (tám trăm nghìn

đồng) theo ủy nhiệm chi số 22 lập ngày 13/02/2023 giữa Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện T.

- Tịch thu sung công 01 điện thoại Iphone 8 plus thu giữ của Lương Thị T;

01 chiếc điện thoại Samsung J2 thu giữ của Phạm Ngọc L.

- Tịch thu tiêu hủy 02 bao cao su đã qua sử dụng.

Số vật chứng trên được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện T theo

Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 21/02/2023 ký giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công A huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện T.

5. Án phí và quyền kháng cáo:

- Áp dụng: Điều 135, 136, 331, 332, 333, 336, 337 Bộ luật tố tụng hình sự

2015.

- Áp dụng: Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016

của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo.

Bị cáo Lương Thị T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có

quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Những người có quyền, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo

bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ