- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Hữu C, Lê Văn H, Phạm Hoài T, Lê Chí Q và Rơ C V phạm tội “Trộm cắp tài sản” - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo: Lê Hữu C, Lê Văn H, Phạm Hoài T, Lê Chí Q và Rơ C V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NT TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2023/HS-ST Ngày: 20-02-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NT, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Đại.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Kim Xuyến và ông Hoài Đức Huệ.
- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Đình Linh Chi– Thư ký Toà án nhân dân huyện NT, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NT tham gia phiên tòa: Bà Vương Thị Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện NT, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 248/2022/TLST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 235/2022/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 12 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2023/HSST-QĐ ngày 10/01/2023 và Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử số 27/TA-TB ngày 01/02/2023 đối với các bị cáo:
1. Lê Hữu C; Giới tính: Nam; Sinh năm 1986, tại tỉnh Hà Tĩnh; Nơi Đăng ký thường trú: Thôn 6, xã M, huyện X, tỉnh Hà Tĩnh. Chỗ ở hiện nay: Ấp 4, xã TL, huyện NT, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: Lớp 09/12; Nghề nghiệp: Công nhân; Con ông Lê Hữu Tường, con bà Trần Thị Nghĩa; Bị cáo có vợ tên là Nguyễn Thị Bé Thành, sinh năm 1987 và có 01 con sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 26/6/2012, Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử 06 tháng tù giam về tội "Trộm cắp tài sản", đến ngày 06/9/2012, bị cáo đã chấp hành xong bản án.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/5/2022 đến ngày 21/5/2022 được hủy bỏ tạm giam. Hiện Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)
2. Lê Văn H; Giới tính: Nam; Sinh năm 1998, tại tỉnh Quảng Bình; Nơi đăng ký thường trú: Thôn Fi, xã TG, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 08/12; Nghề nghiệp: Công nhân; Con bà Nguyễn Thị D; Không xác định được cha ruột; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/5/2022 đến ngày 21/5/2022 được hủy bỏ tạm giam. Hiện Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)
3. Phạm Hoài T; Giới tính: Nam; Sinh năm 1991, tại tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú: Ấp Chợ, xã Phước Thiền, huyện NT, tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: không. Trình độ học vấn: Lớp 09/12; Nghề nghiệp: Tài xế; Con ông Hồ Văn B và con bà Phạm Thị T; Vợ: Nguyễn Thị N, sinh năm 1992 và có 01 con sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/5/2022 đến ngày 21/5/2022 được hủy bỏ tạm giam. Hiện Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)
4. Lê Chí Q; Giới tính: Nam; Sinh năm 1987, tại tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: ấp TN, xã HG, huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp. Tạm trú: Khu phố Phước Lai, thị trấn Hiệp P, huyện NT, tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: không. Trình độ học vấn: Lớp 8/12; Nghề nghiệp: Công nhân; Con ông Lê Văn H (đã chết), con bà Nguyễn Thị T; Có vợ là Nguyễn Thị À G, sinh năm 1996 và có 02 con (con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2016); Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/5/2022 đến ngày 21/5/2022 được hủy bỏ tạm giam. Hiện Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)
5. Rơ C V; Giới tính: Nam; Sinh năm 1995, tại tỉnh Gia Lai; Nơi cư trú: Làng Mun, Thị trấn I, huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Gia Rai. Tôn giáo: không. Trình độ học vấn: Lớp 7/12; Nghề nghiệp: Công nhân; Con ông Rơ Châm H (đã chết), con bà Rơ Châm O; Có vợ là Rơ Châm J, sinh năm 1987 và có 01 con, sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/5/2022 đến ngày 21/5/2022 được hủy bỏ tạm giam. Hiện Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt)
- Bị hại: Công ty Cổ phần Bao bì VH Sài Gòn. Địa chỉ: Khu công nghiệp NT II - Lộc Khang, thị trấn Hiệp P, huyện NT, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Trí D- Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Ngô Minh T- Trưởng phòng kho thành phẩm. Địa chỉ: Khu phố MK, thị trấn Hiệp P, huyện NT, tỉnh Đồng Nai. (Có mặt)
- Người làm chứng:
1) Ngô Quốc G, sinh năm 1991. Địa chỉ: Khu phố ph, thị trấn Hiệp P, huyện NT, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)
2) Trần Ngọc D, sinh năm 1980. Địa chỉ: A1, khu phố 6,phường TH, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Văn H, Lê Hữu C, Phạm Hoài T, Lê Chí Q và Rơ C V đều là công nhân của Công ty Bao bì VH Sài Gòn (Công ty) thuộc Khu công nghiệp NT 2, huyện NT, tỉnh Đồng Nai. Trong quá trình làm việc tại Công ty C (là công nhân tại bộ phận xe nâng, bốc xếp ở kho thành phẩm của Công ty) nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của Công ty bán lấy tiền tiêu xài nên C đã rủ H trộm cắp tài sản của Công ty bán lấy tiền tiêu xài. Khoảng 16 giờ ngày 11/5/2022, H lấy 02 pallet tờ giấy in và 01 pallet bìa phế liệu ở khu dán tủ lạnh và dùng xe nâng chở 03 pallet giấy này ra để trong kho thành phẩm của Công ty, sau đó H gọi điện thoại cho C biết vị trí 03 pallet giấy và nói C đi bán, C đồng ý và liên lạc với T (là công nhân lái xe của Công ty) về việc chở 03 pallet giấy trộm được mang ra ngoài bán. Sau khi bàn bạc thống nhất, C dùng xe điện nâng 03 pallet giấy trộm, gồm: 274 kg bìa phế liệu (lề sóng) các loại và 02 pallet tờ in 0FFSET (có các mã DJ69-00841L-MA là 71 tờ; Mã DJ69-01001C-MA là 208 tờ; mã DJ69-01001C-MB là 107 tờ; mã BN69-21601E-MA là 18 tờ; mã BN69-19091K-MA+MB là 96 tờ; mã DJ69-00522Q-MA là 287 tờ; mã SPAKCC955KKRZ-MB là 440 tờ; mã DJ69-00841L-MB là 134 tờ; mã DJ69-00635D là 224 tờ; mã BN69-21601E-MA là 18 tờ; mã DJ69-00995A-MA là 553 tờ; mã 910097037-MA là 644 tờ và mã DJ69-01005A-01 là 9 tờ) đến khu vực đậu xe ô tô tải biển số 60C-347.23 và nói Thanh và C V (công nhân bộ phận bốc hàng) xếp hàng trộm được lên xe chở đi bán. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, T điều khiển xe ô tô 60C-347.23 chở Thanh, C V và số hàng trộm được ra khỏi Công ty bao bì VH đi tiêu thụ, khi đi trên đường N3, cổng 2 của Công ty thì bị Công an Đồn khu công nghiệp NT phát hiện bắt quả tang đối với T, C V và Thanh cùng tang vật. Sau đó, Lê Hữu C và Lê Văn H đến Đồn Công an KCN NT để đầu thú về hành vi phạm tội của mình.
* Vật chứng và tài sản thu giữ gồm:
+ 01 xe ô tô tải BKS: 60C-347.23;
+ 274 kg bìa phế liệu các loại và 02 pallet giấy in 0FFSET.
+ 03 điện thoại di động (gồm: 01 điện thoại di động Samsung A6 màu đen, gắn sim số 0869.771.799 của Lê Hữu C, 01 điện thoại di động Samsung A6 màu đen, gắn sim số 0787.313.179 Phạm Hoài T, 01 điện thoại di động Iphone màu đen, gắn sim số 0867.867.073 của Lê Văn H).
Tại Kết luận định giá tài sản số: 47/KLGĐ-HĐĐG ngày 19/5/2022 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự kết luận: Mã hàng DJ69-00841L-MA là 71 tờ giá trị sử dụng còn lại 100%, trị giá 847.314 đồng; Mã hàng DJ69-01001C-MA là 208 tờ giá trị sử dụng còn lại 100%, trị giá 1.936.480 đồng; Mã hàng DJ69-01001C-MB là 107 tờ giá trị sử dụng còn lại 100%, trị giá 1.334.718 đồng; Mã hàng BN69-21601E-MA là 18 tờ giá trị sử dụng còn lại 100%, trị giá 630.000 đồng; Mã hàng BN69-19091K-MA+MB là 96 tờ giá trị sử dụng còn lại 100%, trị giá 2.784.000 đồng; Mã hàng DJ69-00522Q-MA là 287 tờ giá trị sử dụng còn lại 100%, trị giá 2.441.509 đồng; Mã hàng SPAKCC955KKRZ-MB là 440 tờ giá trị sử dụng còn lại 100%, trị giá 3.330.360 đồng; Mã hàng DJ69-00841L-MB là 134 tờ giá trị sử dụng còn lại 100%, trị giá 1.599.156 đồng; Mã hàng DJ69-00635D là 224 tờ giá trị sử dụng còn lại 100%, trị giá 2.080.512 đồng; Mã hàng BN69-21601E-MA là 18 tờ giá trị sử dụng còn lại 100%, trị giá 630.000 đồng; Mã hàng DJ69-00995A-MA là 553 tờ giá trị sử dụng còn lại 100%, trị giá 9.668.620 đồng; Mã hàng 910097037-MA là 644 tờ giá trị sử dụng còn lại 100%, trị giá 4.994.864 đồng và mã hàng DJ69-01005A-01 là 9 tờ, giá trị sử dụng còn lại 100%, trị giá 336.186 đồng; 274 kg bìa phế liệu (lề sóng) trị giá 1.835.800 đồng. Tổng giá trị tài sản là 34.449.519 (ba mươi tư triệu bốn trăm bốn mươi chín nghìn năm trăm mười chín) đồng.
Ngoài ra trong quá trình điều tra các bị cáo còn khai nhận:
+ Vào ngày 07/5/2022 C rủ H, T, Thanh trộm tài sản 153 kg bìa phế liệu trị giá 765.000 (bảy trăm sáu mươi lăm nghìn) đồng của Công ty Bao bì VH Sài Gòn bán tại tiệm phế liệu ở khu vực xã Long An, huyện Long Thành được 760.000 đồng, C chia cho T 200.000 đồng, H 100.000 đồng, Thanh 150.000 đồng, C 290.000 đồng.
Tại Kết luận định giá tài sản số: 151/KLGĐ-HĐĐG ngày 11/11/2022 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự kết luận: 153 kg bìa phế liệu, trị giá 765.000 (bảy trăm sáu mươi lăm nghìn) đồng.
+ Vào ngày 09/5/2022, C cùng H, T, Thanh và Rơ C V trộm tài sản 153 kg bìa phế liệu, trị giá 765.000 (bảy trăm sáu mươi lăm nghìn) đồng của Công ty Bao bì VH Sài Gòn bán tại tiệm phế liệu ở khu vực xã Long An, huyện Long Thành được 1.500.000 đồng, chia cho T 400.000 (bốn trăm nghìn) đồng, H 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, Thanh 200.000 đồng, C 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, C V 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.
Tại Kết luận định giá tài sản số: 141/KLGĐ-HĐĐG ngày 02/11/2022 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự kết luận: 300 kg bìa phế liệu (lề sóng) trị giá 1.500.000 (một triệu năm trăm nghìn) đồng.
- Vật chứng đã xử lý: 01 xe ô tô tải BKS: 60C-347.23; 274 kg bìa phế liệu các loại và 02 pallet giấy in 0FFSET giấy Cơ quan Cảnh sát điều tra huyện NT đã trả cho chủ sở hữu là Công ty Bao bì VH Sài Gòn.
Tại Cáo trạng số 222/CT-VKSNT, ngày 21 tháng 11 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện NT truy tố:
Các bị cáo Lê Hữu C, Lê Văn H, Phạm Hoài T, Lê Chí Q và Rơ C V về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa Viện kiểm sát nhân dân huyện NT giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về hình phạt:
- Xử phạt Bị cáo Lê Hữu C: Từ 14 (mười bốn) tháng đến 16 (mười sáu) tháng tù.
- Xử phạt các bị cáo Lê Văn H, Phạm Hoài T, Lê Chí Q: mỗi bị cáo từ 12 (mười hai) tháng đến 14 (mười bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 (hai) năm đến 02 (Hai) năm 04 (bốn) tháng.
- Xử phạt bị cáo Rơ C V: Từ 10 (mười) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 (một) năm 08 (tám) tháng đến 02 (hai) năm.
Về án phí: Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm;
Về xử lý vật chứng:
+ Tịch thu sung công đối với 03 điện thoại di động (gồm: 01 điện thoại di động Samsung A6 màu đen, gắn sim số 0869.771.799 của Lê Hữu C, 01 điện thoại di động Samsung A6 màu đen, gắn sim số 0787.313.179 Phạm Hoài T, 01 điện thoại di động Iphone màu đen, gắn sim số 0867.867.073 của Lê Văn H) là phương tiện dùng vào việc phạm tội.
+ Buộc các bị cáo nộp lại số tiền đã trộm cắp tài sản của Công ty bán lấy tiền chia nhau vào ngày 07/5/2022 và ngày 09/5/2022, cụ thể: Lê Văn H số tiền 400.000 (bốn trăm nghìn) đồng, Lê Hữu C số tiền 590.000 (năm trăm chín mươi nghìn) đồng, Phạm Hoài T số tiền 600.000 (sáu trăm nghìn) đồng, Lê Chí Q số tiền 350.000 (ba trăm năm mươi nghìn) đồng và Rơ C V số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng để sung công quỹ nhà nước.
Trách nhiệm dân sự: Công ty Bao bì VH Sài Gòn đã nhận lại tài sản và không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm nên không xét đến.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Về quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, cơ quan truy tố; hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ai có ý kiến hoặc kH nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Về sự vắng mặt của người làm chứng:
Người làm chứng đã được Tòa án triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên lời khai của những người này đã có trong quá trình điều tra, không ảnh hưởng đến việc xét xử nên căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt người làm chứng.
Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với chứng cứ lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó có cơ sở để xác định:
Vào ngày 07/5/2022, tại Công ty Bao bì VH Sài Gòn, khu công nghiệp NT 2, huyện NT, tỉnh Đồng Nai, Lê Hữu C rủ Lê Văn H, Phạm Hoài T, Lê Chí Q và Rơ C V đã thực hiện hành vi trộm cắp 153 kg bìa giấy phế liệu, trị giá 765.000 (bảy trăm sáu mươi lăm nghìn) đồng.
Vào ngày 09/5/2022, tại Công ty Bao bì VH Sài Gòn, khu công nghiệp NT 2, huyện NT, tỉnh Đồng Nai, Lê Văn H, Lê Hữu C, Phạm Hoài T, Lê Chí Q và Rơ C V đã thực hiện hành vi trộm cắp 300 kg bìa giấy phế liệu, trị giá 1.500.000 (một triệu năm trăm nghìn) đồng.
Vào ngày 11/5/2022, tại Công ty Bao bì VH Sài Gòn, khu công nghiệp NT 2, huyện NT, tỉnh Đồng Nai, Lê Văn H, Lê Hữu C, Phạm Hoài T, Lê Chí Q và Rơ C V đã thực hiện hành vi trộm cắp 03 pallet giấy trộm, gồm: 274 kg bìa phế liệu (lề sóng) và 02 pallet tờ in 0FFSET (có các mã DJ69-00841L-MA là 71 tờ, Mã DJ69-01001C-MA là 208 tờ, mã DJ69-01001C-MB là 107 tờ, mã BN69-21601E-MA là 18 tờ, mã BN69-19091K-MA+MB là 96 tờ, mã DJ69-00522Q-MA là 287 tờ, mã SPAKCC955KKRZ-MB là 440 tờ, mã DJ69-00841L-MB là 134 tờ, mã DJ69-00635D là 224 tờ, mã BN69-21601E-MA là 18 tờ, mã DJ69-00995A-MA là 553 tờ, mã 910097037-MA là 644 tờ và mã DJ69-01005A-01 là 9 tờ.Tổng giá trị tài sản là 34.449.519 (ba mươi tư triệu bốn trăm bốn mươi chín nghìn năm trăm mười chín) đồng.
Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt các ngày 07/5/2022, 09/5/2022, 11/5/2022 là: 36.614.519 (ba mươi sáu triệu sáu trăm mười bốn nghìn năm trăm mười chín) đồng
Do đó, các bị cáo: Lê Hữu C, Lê Văn H, Phạm Hoài T, Lê Chí Q và Rơ C V đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” tội danh và hình phạt được quy định tại theo khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xét về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của Công ty Bao bì VH Sài Gòn được pháp luật bảo vệ. Do đó, cần có biện pháp xử phạt thích hợp nhằm cải tạo và giáo dục các bị cáo có ý thức tuân thủ pháp luật.
Xét vai trò của các bị cáo thì thấy: Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Các bị cáo C, H, Phương, Thanh, C V đều là người thực hành. Riêng bị cáo C là người rủ rê các bị cáo còn lại trong vụ án phạm tội nên có vai trò cao hơn các bị cáo khác.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Xét thấy: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà các bị cáo đã tích cực hợp tác với cơ quan điều tra, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại; Tài sản đã được thu hồi trả cho bị hại, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; Các bị cáo đều xuất thân từ thành phần nhân dân lao động và là lao động chính trong gia đình; Các bị cáo H, Phương, Thanh, C V phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Các bị cáo C, T, Thanh, C V có con còn nhỏ; Các bị cáo C, H tự nguyện ra đầu thú; bị cáo C V thuộc diện hộ nghèo tại địa phương. Vì vậy, các bị cáo Lê Văn H, Phạm Hoài T, Lê Chí Q và Rơ C V được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015. Bị cáo Lê Hữu C được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.
Các bị cáo T, Thanh, H, C V không có tiền án, tiền sự, là người có nhân thân tốt; có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng; thật sự ăn năn hối cải và có khả năng tự cải tạo mình, đều đã bị tạm giam một thời gian nên cũng đủ răn đe và giáo dục các bị cáo. Vì vậy, không nhất thiết phải cách ly các bị cáo với xã hội mà cần áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự như đề nghị của Viện kiểm sát cho các bị cáo này được hưởng án treo sẽ không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội là hoàn toàn phù hợp, đồng thời cũng đủ khả năng giáo dục phòng ngừa và thể hiện sự nhân đạo, chính sách khoan hồng của pháp luật Nhà nước mà tích cực cải tạo trở thành người lương thiện có ích cho xã hội và gia đình.
Về xử lý vật chứng:
+ Cần Tịch thu sung công đối với 03 điện thoại di động (gồm: 01 điện thoại di động Samsung A6 màu đen, gắn sim số 0869.771.799 của Lê Hữu C, 01 điện thoại di động Samsung A6 màu đen, gắn sim số 0787.313.179 Phạm Hoài T, 01 điện thoại di động Iphone màu đen, gắn sim số 0867.867.073 của Lê Văn H) là phương tiện dùng vào việc phạm tội.
+ Cần buộc các bị cáo nộp lại số tiền đã trộm cắp tài sản của Công ty bán lấy tiền chia nhau vào ngày 07/5/2022 và ngày 09/5/2022, cụ thể: Lê Văn H số tiền 400.000 (bốn trăm nghìn) đồng, Lê Hữu C số tiền 590.000 (năm trăm chín mươi nghìn) đồng, Phạm Hoài T số tiền 600.000 (sáu trăm nghìn) đồng, Lê Chí Q số tiền 350.000 (ba trăm năm mươi nghìn) đồng và Rơ C V số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng để sung công quỹ nhà nước.
+ Đối với 01 xe ô tô tải BKS: 60C-347.23; 274 kg bìa phế liệu các loại và 02 pallet giấy in 0FFSET giấy Cơ quan Cảnh sát điều tra huyện NT đã trả cho chủ sở hữu là Công ty Bao bì VH Sài Gòn là phù hợp quy định của pháp luật.
Về tội danh, điều luật của đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng là phù hợp và có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Về mức án đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt đối với từng bị cáo là có phần nghiêm khắc.
Xét ý kiến tranh luận và lời nói sau cùng của các bị cáo: Các Bị cáo thống nhất với tội danh, điều luật áp dụng và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng và không có ý kiến tranh luận gì về tội danh cũng như về hình phạt, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các Bị cáo đều biết hành vi của mình là sai, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Ý kiến tranh luận và lời nói sau cùng của các bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/ 2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Cần buộc các bị cáo mỗi người phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các Bị cáo, Bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng điều 326, Điều 327 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
Tuyên bố các bị cáo: Lê Hữu C, Lê Văn H, Phạm Hoài T, Lê Chí Q và Rơ C V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 17; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Xử phạt bị cáo Lê Hữu C 01 (một) năm tù, Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo tự nguyện hoặc bị áp giải để chấp hành án phạt tù nhưng được trừ vào thời gian bị cáo bị giam giữ từ ngày ngày 12/5/2022 đến ngày 21/5/2022.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 17; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Lê Văn H 10 (mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01(một) năm 08 (tám) tháng, thời hạn được tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 20/02/2023).
Xử phạt bị cáo Phạm Hoài T 10 (mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01(một) năm 08 (tám) tháng, thời hạn được tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 20/02/2023).
Xử phạt bị cáo Lê Chí Q 10 (mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01(một) năm 08 (tám) tháng, thời hạn được tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 20/02/2023).
Xử phạt bị cáo Rơ C V 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01(một) năm 06 (sáu) tháng thời hạn được tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 20/02/2023).
Giao bị cáo Lê Văn H cho Ủy ban nhân dân xã TT, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; Giao bị cáo Phạm Hoài T cho Ủy ban nhân dân xã Phước Thiền, huyện NT, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; Giao bị cáo Lê Chí Q cho Ủy ban nhân dân thị trấn Hiệp P, huyện NT, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; Giao bị cáo Rơ C V cho Ủy ban nhân dân Thị trấn I, huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Gia đình của người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án. Trường hợp người bị kết án có sự thay đổi nơi cư trú thì việc Thi hành án thực hiện theo khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, 47, 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
+ Tịch thu sung công đối với 03 điện thoại di động, gồm: 01 điện thoại di động Samsung A6 màu đen, có gắn sim; 01 điện thoại di động Samsung A6 màu đen, có gắn sim, 01 điện thoại di động Iphone màu đen, có gắn sim.
(Vật chứng đang được tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện NT, tỉnh Đồng Nai theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 24 tháng 11 năm 2022).
+ Buộc các bị cáo: Lê Văn H phải nộp số tiền 400.000 (bốn trăm nghìn) đồng, Lê Hữu C phải nộp số tiền 590.000 (năm trăm chín mươi nghìn) đồng, Phạm Hoài T phải nộp số tiền 600.000 (sáu trăm nghìn) đồng, Lê Chí Q phải nộp số tiền 350.000 (ba trăm năm mươi nghìn) đồng và Rơ C V phải nộp số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng để sung công quỹ nhà nước.
- Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/ 2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Buộc các bị cáo Lê Hữu C, Lê Văn H, Phạm Hoài T, Lê Chí Q và Rơ C V mỗi người phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Các bị cáo Lê Hữu C, Lê Văn H, Phạm Hoài T, Lê Chí Q, Rơ C V và bị hại Công ty Bao bì VH Sài Gòn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; Bị hại; - VKSND huyện NT; - TAND,VKSND tỉnh Đồng Nai; - Chi cục THA dân sự huyện NT; - Cơ quan CSĐT Công an huyện NT; - Cơ quan THA HS có thẩm quyền; - Sở tư pháp; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Đại |