- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cồ Thị T - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Cồ Thị T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2023/HS-ST Ngày: 31/5/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Mạnh Cường
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Hùng
Bà Phạm Hồng Minh
-Thư ký phiên toà: Ông Phạm Văn Minh - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Nam Trực.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Là – Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến với điểm cầu thành phần tại Công an huyện Nam Trực đối với vụ án hình sự thụ lý số: 15/2023/HSST ngày 18 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2023/HSST- QĐ ngày 18 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Cồ Thị T; Sinh năm: 1998; Giới tính: Nữ; Nơi ĐKHKTT, nơi ở: Xóm Đ, xã Đ, huyện N, tỉnh Nam Định.Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không; Đảng phái: Không. Con ông Cồ Văn D, đã chết; Con bà: Vũ Thị D, đã chết. Có chồng là Dương Văn T (đã ly hôn). Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/3/2023 đến ngày 09/3/2023 chuyển tạm giam cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 13 giờ ngày 06 tháng 3 năm 2023, bị cáo đi xe buýt từ nhà ở Đông Vân Cù, xã Đ, huyện Nam Trực đến khu vực ngã tư đường tỉnh lộ 490C, thuộc địa phận thôn Vân Đồn, xã Nghĩa An, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định mua của một người đàn ông không biết tên, tuổi địa chỉ 02 túi nilon màu trắng, bên trong đều chứa ma túy “đá” với giá 500.000 đồng. Sau khi mua xong, bị cáo cất 02 túi ma túy “đá” ở túi quần phía trước bên phải đang mặc, nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân. Sau đó, bị cáo đi xe buýt về thôn Quán Chiền, xã Nam Dương, huyện Nam Trực. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, bị cáo đang đứng ở khu vực trước cửa quán cà phê Giọt Đắng thuộc địa phận thôn Quán Chiền, xã Nam Dương, huyện Nam Trực thì bị tổ công tác Công an huyện Nam Trực phát hiện bắt quả tang. Thu giữ ở túi quần phía trước bên phải của bị cáo đang mặc 02 túi nilon màu trắng, bên trong đều chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng (niêm phong ký hiệu M), bị cáo khai nhận đó là ma túy đá. Tổ công tác Công an huyện Nam Trực đã mời người chứng kiến, đưa bị cáo và vật chứng về trụ sở Ủy ban nhân dân xã Nam Dương, huyện Nam Trực lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tại bản kết luận giám định số 433/KL-KTHS ngày 09/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu rắn dạng tinh thể màu trắng trong 02 túi ni lon màu trắng trong phong bì thư được niêm phong ký hiệu M gửi giám định đều là ma túy. Loại ma túy: Methamphetamine. Tổng khối lượng mẫu M: 0,466 gam
Bản cáo trạng số: 21/CT-VKS ngày 18/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định truy tố bị cáo Cồ Thị T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng và đề nghị: Tuyên bố bị cáo Cồ Thị T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Cồ Thị T từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số Methamphetamine được đựng trong phong bì thư của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định.
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nam Trực, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền,trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên toà là thống nhất với lời khai của cơ quan điều tra và phù hợp với các chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 06/3/2023; biên bản khám xét ngày 06/3/2023; bản kết luận giám định số 433/KL-KTHS ngày 09/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định, biên bản ghi lời khai người làm chứng anh Nguyễn Văn Thắng, Nguyễn Thị Ngoan. Từ các chứng cứ trên đã đủ căn cứ kết luận: Khoảng 14 giờ, ngày 06 /3/2023, tại khu vực trước cửa quán cà phê Giọt Đắng thuộc địa phận thôn Quán Chiền, xã Nam Dương, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, bị cáo Cồ Thị T có hành vi tàng trữ trái phép 0,466 gam Methamphetamine với mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tới chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bản thân bị cáo là người có đủ khả năng nhận thức việc tàng trữ ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó, hành vi trên của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo khai báo thành khẩn. Vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
Về hình phạt: Qua đánh giá tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, tiếp tục cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để bị cáo cải tạo mình thành công dân có ích cho xã hội cũng như răn đe phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Số Methamphetamine là vật mà Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu cho tiêu hủy.
Đối với người đàn ông đã bán Methamphetamine cho bị cáo, tài liệu điều tra chưa đủ căn cứ xác định nên cơ quan điều tra quá trình điều tra không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể. Vì vậy, không có căn cứ điều tra xử lý là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
- Tuyên bố bị cáo Cồ Thị T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt Cồ Thị T 21(Hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn được tính kể từ ngày 06/3/2023.
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số Methamphetamine được đựng trong phong bì thư số 433/KL- KTHS của Công an tỉnh Nam Định đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/4/2023 giữa Công an huyện Nam Trực và Chi cục thi hành án dân sự huyện Nam Trực.
3.Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Bị cáo Cồ Thị T phải nộp 200.000(Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Bị cáo;
- Toà án nhân dân tỉnh;
- VKS nhân dân huyện Nam Trực;
- Công an huyện Nam Trực;
- Chi cục THADS huyện Nam Trực;
- UBND xã Đ;
- Lưu hồ sơ + VP.
Phạm Mạnh Cường Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Bị hại;
- Toà án nhân dân tỉnh;
- VKS nhân dân huyện Nam Trực;
- Công an huyện Nam Trực;
- Chi cục THADS huyện Nam Trực;
- UBND xã Đồng Sơn;
- Lưu hồ sơ + VP.
Phạm Mạnh Cường
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nam Định; - VKSND tỉnh+huyện; - Chi cục THADS huyện Nam Trực; - Công an huyện Nam Trực; - UBND xã Tân Thịnh; - Bị cáo; - Lưu HS+VP. | Phạm Mạnh Cường |