vanban.org

Bản án 25/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ Tuyên án 22/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Về hình phạt: xử phạt bị cáo Nguyễn Đức Q 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (28/02/2023). Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Đức Q 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo việc thi hành … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Q trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HẠ HÒA
TỈNH PHÚ THỌ
–––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2023/HS-ST
Ngày: 22- 8-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẠ HÒA, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Mai Linh

Các Hội thẩm nhân dân:

1.Ông Vũ Thành Dũng

2.Ông Nguyễn Văn Tiệm

- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Văn Tứ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hạ Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thắm - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2023, tại điểm cầu Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ và điểm cầu phòng xét xử trực tuyến Trại tạm giam Công an tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 22/2023/TLST-HS, ngày 07 tháng 6 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2023/QĐXXST-HS, ngày 09 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Đức Q, sinh năm 1999 tại huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Thôn A, xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Đảng phái: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đức D (đã chết) và bà Nguyễn Thị Lan H, sinh năm 1975; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: 02 tiền án: Bản án số 11/2019/HS-ST ngày 28/02/2019 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Thái Bình xử phạt 01 năm tù về tội trộm cắp tài sản. Chấp hành xong hình phạt ngày 29/11/2019. Bản án số 42/2021/HS-ST ngày 09/3/2021 của Tòa án nhân dân quận T, TP Hà Nội xử phạt 15 tháng tù về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Chấp hành xong hình phạt ngày 21/02/2022. Tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 02/12/2014 bị Công an huyện T, tỉnh Yên Bái xử phạt vi phạm hành chính, hình thức cảnh cáo về hành vi trộm cắp tài sản. Ngày 14/02/2015 bị Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Thái Bình ra quyết định số 01/2015 áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng với thời hạn 02 năm, chấp hành xong ngày 01/02/2017. Ngày 29/12/2018 bị Công an huyện H, tỉnh Thái Bình xử phạt vi phạm hành chính, hình thức cảnh cáo về hành vi hủy hoại tài sản.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/02/2023 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Phú Thọ.

+ Bị hại: - Anh Đào Tuấn A – sinh năm 1997

Nơi cư trú: Khu 4, xã A, huyện H, tỉnh Phú Thọ.

- UBND xã A

Người đại diện: Ông Phạm Đình C – sinh năm 1979

Nơi cư trú: Khu 5, xã Ấm Hạ, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ.

+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1.Chị Khuất Thị T – sinh năm 1992

Nơi cư trú: Khu 13, xã T, huyện H, tỉnh Phú Thọ.

2.Anh Nguyễn Ngọc Di – sinh năm 1991

Nơi cư trú: Phường L, quận H, thành phố Hà Nội..

3.Anh Lê Văn Q – sinh năm 1985

Nơi cư trú: Thôn P, xã C, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.

4.Anh Nguyễn Đức C – sinh năm 1990

Nơi cư trú: Thôn A, xã C, huyện H, tỉnh Thái Bình.

5.Bà Nguyễn Thị C – sinh năm 1975

Nơi cư trú: Thôn P, xã C, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.

(Bị cáo có mặt. Người tham gia tố tụng khác vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 25/02/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Hạ Hòa nhận được tố giác của anh Đào Tuấn A về việc đêm ngày 24/02/2023 anh bị mất trộm 16 chiếc điện thoại di động, 01 máy tính xách tay cùng dây sạc, 01 ba lô bằng vải trị giá khoảng 50.000.000 đồng.

Sau khi tiếp nhận nguồn tin trên, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Hạ Hòa đã tiến hành kiểm tra xác minh. Kết quả xác định Nguyễn Đức Q là người trộm cắp tài sản của anh A. Ngày 28/02/2023, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Hạ Hòa tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Q. Quá trình giữ khẩn cấp, Cơ quan điều tra tạm giữ của Q: 01 chiếc ví giả da màu đen bên trong có 180.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A20S màu đen; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Ablade BKS 29E1-106.92; 01 quần đùi màu trắng, 01 chiếc áo khoác màu đen xám.

Tại Cơ quan CSĐT - Công an huyện Hạ Hòa, Nguyễn Đức Q khai nhận:

Do có mối quan hệ tình cảm với chị Khuất Thị T (Sinh năm 1992, ở khu 13, xã T, huyện H, tỉnh Phú Thọ) nên Nguyễn Đức Q thường xuyên về nhà chị T chơi. Chiều ngày 19/2/2023, Q điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Ablade màu đen BKS 29E1-106.92 đi từ nhà ở tỉnh Thái Bình đến nhà chị T chơi. Ngày 21/02/2023 do con của T bị ốm nên Q điều khiển xe mô tô chở hai mẹ con chị T đến bệnh viện Hùng Vương, ở huyện Đ, tỉnh Phú Thọ khám và điều trị. Lúc này, do không có tiền chi tiêu cá nhân nên Q nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Khoảng hơn 17 giờ ngày 24/02/2023, Q điều khiển xe mô tô BKS 29E1-106.92 đi từ bệnh viện Hùng Vương hướng về huyện Hạ Hòa tìm địa điểm trộm cắp tài sản. Khi đi đến khu 8 xã A, Q quan sát thấy Miếu Chu nằm ở bên tay trái, cách ngã ba C khoảng 30 - 40m không có ai trông coi. Tiếp tục đi đến khu 4 xã A, Q thấy 01 cửa hàng mua bán điện thoại ở ngay mặt đường nên dự định sẽ trộm cắp tài sản ở 02 địa điểm trên. Sau đó, Q điều khiển xe ra thị trấn H rồi vào một quán game ở ven đường ngồi chơi điện tử.

Khoảng gần 23 giờ cùng ngày, Q điều khiển xe mô tô BKS 29E1-106.92 để đi trộm cắp tài sản ở những địa điểm đã định. Khi đi đến trạm biến áp thuộc khu 4 xã A, Q để xe, dép cạnh trạm biến áp rồi đi bộ đến quán mua bán, sửa chữa điện thoại Anh Nga của anh Đào Tuấn A. Thấy cửa đã khóa, Q nhảy lên bờ tường, trèo lên mái nhà, dùng tay cậy nhấc hai tấm bờ lô xi măng thì thấy có những thanh gỗ tròn, Q cậy những thanh gỗ tròn ra rồi chọc lớp trần nhựa bung xuống, chui vào trong quán. Q dùng bật lửa mang theo người bật lên thì thấy có nhiều điện thoại di động được đặt trong tủ kính không khóa. Q dùng tay mở tủ, lấy điện thoại đúc vào trong túi áo và túi quần. Thấy một chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu DELL màu đen được đặt ở trên mặt bàn đang cắm sạc, bên cạnh có một chiếc ba lô bằng vải màu xanh nên Q lấy máy tính, dây sạc cùng những chiếc điện thoại vừa lấy được cất vào trong ba lô. Sau đó, Q dùng tay kéo dịch một chiếc tủ kính, kê bàn nhựa, ghế nhựa có sẵn ở quán, giẫm chân lên trèo ra ngoài theo lối đã vào trước đó.

Sau khi ra ngoài, Q lấy xe, dép rồi điều khiển xe đi vào ngã ba C. Q vào nhà nghỉ H do anh Trần Thái H (Sinh năm 1981) quản lý thuê 01 phòng. Nhận phòng xong, Q để những tài sản vừa trộm cắp được rồi đi bộ đến Miếu Chu. Q trèo qua tường vào bên trong thì thấy có một hòm công đức bằng gỗ được đặt ở sân. Tìm xung quanh thấy một chiếc kéo sắt và một con dao để giáp bờ tường nên Q dùng kéo, dao cậy khóa hòm công đức, lấy tất cả tiền bên trong đúc vào trong túi nilon nhặt được bên cạnh. Sau đó, Q quay về nhà nghỉ, lấy đồ rồi trả phòng để đi sang bệnh viện Hùng Vương. Trên đường đi, Q dừng lại một quán sáng điện ven đường kiểm đếm số tiền trộm cắp được ở Miếu Chu là 1.150.000 đồng. Đến khoảng hơn 2 giờ sáng ngày 25/02/2023, khi đi gần đến bệnh viện Hùng Vương, Q vào nhà nghỉ Minh Hiếu ở thôn P, xã C, huyện Đ do bà Nguyễn Thị C (Sinh năm 1975) quản lý thuê phòng nghỉ qua đêm. Tại đây, Q lấy những tài sản đã trộm cắp được ra kiểm đếm thì thấy có 16 chiếc điện thoại di động với nhiều nhãn hiệu khác nhau như Iphone, OPPO Samsung, ViVo.

Đến khoảng 9 giờ ngày 25/2/2023, Q bỏ lại chiếc ba lô ở nhà nghỉ, cất tất cả tài sản trộm cắp được vào trong cốp xe rồi trả phòng, đi xuôi theo quốc lộ 2 hướng về thị trấn Đ. Khi thấy cửa hàng mua bán điện thoại của anh Lê Văn Q (Sinh năm 1985, trú tại thôn P, xã C, huyện Đ), Q bán cho anh Q 04 chiếc điện thoại di động trộm cắp được gồm: 01 chiếc Iphone 6 Plus màu vàng; 01 chiếc Samsung A10S màu đen; 01 chiếc Samsung M20 màu đen và 01 chiếc ViVo Y11 màu xanh nhạt với giá 2.000.000 đồng. Nhận tiền, Qđiều khiển xe quay lại đi vào bệnh viện Hùng Vương gặp và cho chị T 02 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo F9, 01 chiếc màu tím đen, 01 chiếc màu xanh trắng cùng số tiền 1.930.000 nói là do đi đòi nợ mà có. Chiều cùng ngày, Q chở hai mẹ con chị T về khu 13, xã T rồi nghỉ tại đó.

Đến trưa ngày 26/2/2023, Q điều khiển xe mô tô quay về nhà ở Thái Bình. Trên đường đi, Q đã bán chiếc máy tính xách tay Dell, màu đen, kèm dậy sạc cho anh Nguyễn Ngọc D (Sinh năm 1991, trú tại số 312, đường L, phường L, quận H, thành phố Hà Nội) với giá 800.000 đồng. Tối ngày 26/2/2023, khi về nhà, Q bán anh họ là Nguyễn Đức C, (Sinh năm 1990, là ở thôn An Tiến, xã Chí Hòa, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình) 01 chiếc điện thoại cảm ứng màu xám (không nhớ nhãn hiệu, chủng loại) với giá 500.000 đồng. Bản thân Qgiữ lại 02 chiếc điện thoại để sử dụng gồm: 01 chiếc nhãn hiệu Nokia đen trắng, 01 chiếc nhãn hiệu Samsung Galaxy A20S màu đen.

Đối với 07 chiếc điện thoại di động còn lại, Q khai bán 02 chiếc điện thoại (không xác định được nhãn hiệu, chủng loại) cho bà Trần Thị T (Sinh năm 1975 ở xã M, huyện H, tỉnh Thái Bình) được 1.400.000 đồng. Còn 05 chiếc (không xác định được nhãn hiệu, chủng loại) Q đã đánh rơi mất trên đường đi, không biết rơi ở đâu.

Cơ quan CSĐT - Công an huyện Hạ Hòa đã tiến hành triệu tập, lấy lời khai đối với chị Khuất Thị T, anh Lê Văn Q, anh Nguyễn Ngọc D, anh Nguyễn Đức C và bà Trần Thị T. Chị T thừa nhận việc Nguyễn Đức Q cho tiền và 02 chiếc điện thoại di động. Anh Q, D, C khai nhận việc mua bán máy tính xác tay, điện thoại di động của Nguyễn Đức Q như trên nhưng đều không biết đây là tài sản do phạm tội mà có. Riêng bà T không thừa nhận việc mua điện thoại của Q. Sau khi mua tài sản, anh Lê Văn Q đã bán 02 chiếc điện thoại di động gồm 01 chiếc Samsung A10S màu đen, 01 chiếc Samsung M20 màu đen cho những người đi đường (không xác định được tên, tuổi, địa chỉ). Đối với chiếc điện thoại di động mà anh C mua của Q, anh C khai đã làm rơi mất nên Cơ quan điều tra không thu hồi được 03 chiếc điện thoại trên.

Quá trình điều tra chị Khuất Thị T đã giao nộp 1.930.000 đồng cùng 02 chiếc điện thoại di động; anh Lê Văn Q giao nộp 02 chiếc điện thoại di động, bà Nguyễn Thị C giao nộp 01 chiếc balo; Anh D giao nộp 01 máy tính xách tay kèm dây sạc. Riêng 02 điện thoại Q khai bán cho bà T, do bà T không thừa nhận, CQĐT đã tiến hành điều tra nhưng không đủ căn cứ đề nghị xử lý. Cơ quan điều tra đã yêu cầu định giá đối với các tài sản trên.

Tại bản KLĐG tài sản số 13, 14, 16b /KL-HĐĐGTS, Hội đồng định giá tài sản huyện Hạ Hòa kết luận:

Chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu DELL màu đen, màn hình 15,6 inch, mua mới tháng 6/2019 với giá 13.500.000 đồng, có trị giá 5.000.000 đồng.

Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F9 màu xanh trắng đen mua tháng 12/2022 với giá 2.100.000 đồng có trị giá 2.000.000 đồng.

Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F9 màu tím đen mua tháng 12/2022 với giá 2.100.000 đồng có trị giá 2.000.000 đồng.

Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A20S màu đen mua tháng 12/2022 với giá 2.100.000 đồng có trị giá 2.000.000 đồng.

Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen mua tháng 11/2022 với giá 300.000 đồng có trị giá 100.000 đồng".

01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus màu vàng mua lại vào tháng 5/2022 với giá 1.500.000 đồng có trị giá 1.000.000 đồng.

01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu ViVo Y11màu xanh đen mua lại vào tháng 1/2023 với giá 1.600.000 đồng có trị giá 1.000.000 đồng.

01 dây sạc máy tính nhãn hiệu DELL màu đen có trị giá 100.000 đồng.

01 ba lô bằng vải màu xanh có trị giá 50.000 đồng.

Đối với 10 chiếc điện thoại di động còn lại mà Q đã trộm cắp nhưng Cơ quan điều tra không thu hồi được, anh Đào Tuấn A trình bày đây là những điện thoại cũ anh mua lại về để bán, mặc dù anh A kê khai rõ chủng loại, nhãn hiệu, trị giá nhưng không xác định được mua của ai, không có tài liệu liên quan đến nguồn gốc, tình trạng điện thoại. Cơ quan điều tra đã yêu cầu Hội đồng định gái tài sản huyện Hạ Hòa xác định trị giá những chiếc điện thoại này nhưng Hội đồng ĐGTS trong tố tụng hình sự huyện Hạ Hòa đã từ chối định giá do không đủ cơ sở để tiến hành định giá, không đủ các điều kiện cần thiết để tiến hành định giá.

Như vậy, trong vụ án này chỉ xem xét xử lý hình sự về hành vi trộm cắp tài sản của Q 2 lần với tổng trị giá tài sản trộm cắp đã chứng minh được là 14.400.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số: 21/CT-VKS ngày 06/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức Q về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”

- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự: Xử phạt Nguyễn Đức Q từ 48 (Bốn mươi tám) tháng tù đến 60 (Sáu mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (28/02/2023). Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2, điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Xác nhận ngày 21/5/2023 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hạ Hòa đã trả lại cho anh Đào Tuấn A 06 chiếc điện thoại di động cùng 01 máy tính xách tay kèm dây sạc, 01 ba lô vải

Tịch thu bán phát mại sung Ngân sách Nhà nước 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Ablade màu đen BKS 29E1-106.92, số khung RLHJF2703SY309308, số máy JF27E-1246039 đã qua sử dụng

Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 2.110.000đ

Tịch thu tiêu hủy 01 quần sooc màu trắng có chữ VULCANO, 01 áo khoác nam màu đen xám, bên trong có lót lông màu trắng nhãn hiệu LUOGO, 01 ví giả da màu đen (đều đã qua sử dụng) thu giữ của bị cáo

- Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ.

Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận gì, thừa nhận và ăn năn hối hận với hành vi phạm tội của bản thân.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng hình sự: Các quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, hành vi tố tụng của điều tra viên trong quá trình điều tra vụ án, quyết định tố tụng của Viện kiểm sát và hành vi tố tụng của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố là đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

. Về căn cứ buộc tội: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại tại cơ quan điều tra, vật chứng thu giữ được và các tài liệu khác có trong hồ sơ, nên có đủ cơ sở để kết luận:

Trong khoảng thời gian từ khoảng hơn 23 giờ đến 24 giờ ngày 24/02/2023, Nguyễn Đức Q đã 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn xã A, huyện H, tỉnh Phú Thọ. Cụ thể: Lần thứ nhất tại quán bán hàng của anh Đào Tuấn A ở khu 4 xã A, Q đã trộm cắp 16 chiếc điện thoại di động với nhiều nhãn hiệu khác nhau cùng 01 máy tính xách tay nhãn hiệu DELL kèm dây sạc, 01 ba lô bằng vải nhưng Cơ quan điều tra chỉ chứng minh làm rõ và xác định được trị giá của 06 chiếc điện thoại di động, 01 máy tính xách tay kèm dây sạc, 01 ba lô bằng vải với tổng trị giá là 13.250.000 đồng; Lần thứ hai tại khu 8 xã A, Q đã trộm cắp số tiền 1.150.000 đồng trong hòm công đức đặt tại Miếu Chu. Tổng trị giá tài sản Q chiếm đoạt là 14.400.000 đồng (Mười bốn triệu bốn trăm nghìn đồng).

Hành vi nêu trên của Nguyễn Đức Q đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

"Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm

...

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

...

g) Tái phạm nguy hiểm".

Do vậy có đủ cơ sở để kết luận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hạ Hòa đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

. Về tính chất của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội do bị cáo gây ra thuộc trường hợp nghiêm trọng, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây hoang mang bất bình trong dư luận, ảnh hưởng xấu đến nếp sống văn minh địa phương

Bị cáo đủ tuổi và đủ năng lực trách nhiệm hình sự, không thuộc trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt. Tuổi đời còn trẻ nhưng bị cáo không chịu khó làm ăn, nhận biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn lợi dụng sự sơ hở của bị hại, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp.

. Về nhân thân: Nguyễn Đức Q là người có nhân thân rất xấu, nhiều lần bị xét xử hình sự và xử phạt vi phạm hành chính do vi phạm pháp luật nhưng không tu chí rèn luyện, tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Điều đó chứng tỏ hình phạt của các bản án trước chưa đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo. Mặt khác, lần phạm tội này, bị cáo lại liều lĩnh thực hiện hành vi ở địa phương khác, coi thường pháp luật nên cần thiết phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc mới đủ sức giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.

. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Do thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Ngày 28/02/2019, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Thái Bình xử phạt 01 năm tù về tội trộm cắp tài sản. Ngày 09/3/2021, bị cáo tiếp tục bị Tòa án nhân dân quận T, TP Hà Nội xử phạt 15 tháng tù về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, chấp hành xong ngày 21/02/2022. Lần phạm tội này của bị cáo được xác định là tái phạm nguy hiểm. Do đây là tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS nên bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS. Đêm ngày 24/02/2023, bị cáo đã 02 lần thực hiện hành vi phạm tội, tuy một lần trị giá tài sản trộm cắp dưới 2.000.000 đồng nhưng bản thân bị cáo đã có tiền án về tội trộm cắp tài sản, chưa được xóa tích nên lần phạm tội này đã cấu thành tội trộm cắp tài sản. Do vậy, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS.

Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, trên cơ sở phục vụ công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm cần xử phạt bị cáo mức tù giam trong khung như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp

Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 50.000.000đ”. Xét thấy bị cáo không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

. Về xử lý vật chứng:

Ngày 21/5/2023 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hạ Hòa đã trả lại cho anh Đào Tuấn A 06 chiếc điện thoại di động (01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F9 màu xanh trắng đen, 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F9 màu tím đen, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A20S màu đen, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus màu vàng, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu ViVo Y11 màu xanh đen) cùng 01 máy tính xách tay kèm dây sạc, 01 ba lô vải là đúng quy định của pháp luật, cần xác nhận.

Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Ablade màu đen BKS 29E1-106.92, số khung RLHJF2703SY309308, số máy JF27E-1246039 đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo, bị cáo sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội cần tịch thu bán phát mại sung Ngân sách Nhà nước

Số tiền 2.110.000đ (Hai triệu một trăm mười nghìn đồng) thu giữ là tiền do bị cáo phạm tội mà có cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước

01 quần sooc màu trắng có chữ VULCANO, 01 áo khoác nam màu đen xám, bên trong có lót lông màu trắng nhãn hiệu LUOGO, 01 ví giả da màu đen (đều đã qua sử dụng) là tài sản riêng của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên sẽ trả lại cho bị cáo. Tại phiên tòa, bị cáo không đề nghị lấy lại, do vậy sẽ tịch thu tiêu hủy.

. Về trách nhiệm dân sự: Anh Phạm Đình C là người quản lý Miếu Chu không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền 1.150.000 đồng. Anh Lê Văn Q, anh Nguyễn Ngọc D không yêu cầu bị cáo bồi thường do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với 10 chiếc điện thoại di động còn lại mà Q đã trộm cắp nhưng Cơ quan điều tra không thu hồi được, anh Đào Tuấn A trình bày đây là những điện thoại cũ anh mua lại về để bán, mặc dù anh A kê khai rõ chủng loại, nhãn hiệu, trị giá nhưng không xác định được mua của ai, không có tài liệu liên quan đến nguồn gốc, tình trạng điện thoại. Cơ quan điều tra đã yêu cầu Hội đồng định gái tài sản huyện Hạ Hòa xác định trị giá những chiếc điện thoại này nhưng Hội đồng ĐGTS trong tố tụng hình sự huyện Hạ Hòa đã từ chối định giá do không đủ cơ sở để tiến hành định giá, không đủ các điều kiện cần thiết để tiến hành định giá. Do vậy trong vụ án này không đủ cơ sở để xác định trị giá các tài sản đó. Quá trình chuẩn bị xét xử, anh A có đơn đề nghị không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nữa, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2, điểm a, b khoản 3 Điều 106, Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Xử

1.Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”

2.Về hình phạt: xử phạt bị cáo Nguyễn Đức Q 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (28/02/2023). Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Đức Q 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo việc thi hành án.

3. Về xử lý vật chứng:

Xác nhận ngày 21/5/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hạ Hòa đã trả lại cho anh Đào Tuấn A 06 chiếc điện thoại di động (01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F9 màu xanh trắng đen, 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F9 màu tím đen, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A20S màu đen, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus màu vàng, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu ViVo Y11 màu xanh đen) cùng 01 máy tính xách tay nhãn hiệu DELL màu đen, màn hình 15,6 inch kèm 01 dây sạc máy tính nhãn hiệu DELL màu đen, 01 ba lô vải màu xanh.

Tịch thu bán phát mại sung Ngân sách Nhà nước 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Ablade màu đen BKS 29E1-106.92, số khung RLHJF2703SY309308, số máy JF27E-1246039 đã qua sử dụng.

Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 2.110.000đ (Hai triệu một trăm mười nghìn đồng)

Tịch thu tiêu hủy 01 quần sooc màu trắng có chữ VULCANO, 01 áo khoác nam màu đen xám, bên trong có lót lông màu trắng nhãn hiệu LUOGO, 01 ví giả da màu đen (đều đã qua sử dụng)

(Các tài sản trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hạ Hòa đang quản lý)

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Đức Q phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ