- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Hoàng S phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trương Hoàng S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2023/HS-ST Ngày: 28-02-2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy Trang.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Nguyễn Chí Lin
2/ Ông Lý Văn Hùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Đính - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 19/2023/TLST-HS ngày 31 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2023/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 02 năm 2023, đối với bị cáo:
Trƣơng Hoàng S, sinh năm 1999, tại Sóc Trăng; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp T, xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Hoàng T, sinh năm 1970 (sống) và bà Mai Bích N, sinh năm 1975 (sống); A, chị, em ruột: có 02 người, lớn nhất sinh năm 1997, nhỏ nhất sinh năm 2005; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/11/2022 đến nay (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Bị hại:
1. Ông Trần Minh H, sinh năm 1971;
Địa chỉ: Ấp C, xã B, huyện Đ, tỉnh Long An.
2. Ông Thạch Sa H1, sinh năm 1982;
Địa chỉ: Ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
3. Ông Danh H2, sinh năm 1967;
Địa chỉ: Ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Người làm chứng:
1. Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1971.
Địa chỉ: Ấp E, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
2. Ông Hồ Minh T1, sinh năm 1995.
Địa chỉ: Ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
(Bị cáo S có mặt tại phiên tòa, bị hại ông H, ông H1, ông H2; người làm chứng ông C, ông T1 vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 01 giờ 20 phút ngày 15/11/2022, Trương Hoàng S đi bộ từ phòng trọ không biển hiệu thuộc ấp E, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An đến trước Công ty TNHH T2 tại Đường số C, Khu công nghiệp T thuộc ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An thì thấy ông Trần Minh H, đang nằm ngủ trên ghế bố trong phòng bảo vệ công ty TNHH T2, nên S nảy sinh ý đột nhập vào tìm tài sản để lấy trộm, lúc này S trèo hàng rào cặp chốt bảo vệ đột nhập vào bên trong, S thấy 01 máy tính bảng nhãn hiệu SamSung, màu đen, loại Tab A2016, số sim 0817295374 đang cấm sạc pin trên bàn cạnh cửa sổ, S rút dây điện sạc pin lấy bỏ vào túi quần bên phải rồi trèo hàng rào ra bên ngoài.
Sau đó, S tiếp tục đi tìm tài sản để lấy trộm, khi đi đến Công ty TNHH H3, địa chỉ đường số A, Khu công nghiệp T thuộc ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An thấy ông Thạch Sa H1 và ông Danh H2 đang nằm ngủ trong phòng bảo vệ, ông H1 có cắm sạc pin điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu đen, loại A71, ông H2 có cắm sạc pin điện thoại nhãn hiệu Oppo, màu tím, loại A3S trên bàn cạnh cửa sổ, S nảy sinh ý định lấy trộm tài sản này nên đột nhập vào bên trong phòng bảo vệ lấy 02 điện thoại này bỏ vào túi quần rồi tẩu thoát thì bị phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng vụ án.
Vật chứng vụ án tạm giữ gồm: 01 máy tính bảng nhãn hiệu SamSung, màu đen, loại Tab A2016; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu đen, loại A71 và điện thoại nhãn hiệu Oppo, màu tím, loại A3S.
Tại kết luận về định giá tài sản số 122/KL.ĐGTS ngày 17/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ, tỉnh Long An kết luận: 01 máy tính bảng nhãn hiệu SamSung, màu đen, loại Tab A2016 trị giá 787.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu đen, loại A71 trị giá 711.000 đồng và điện thoại nhãn hiệu Oppo, màu tím, loại A3S trị giá 718.000 đồng. Tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 2.216.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 28/CT-VKSĐH ngày 27 tháng 01 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An truy tố bị cáo Trương Hoàng S về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa bị cáo Trương Hoàng S thừa nhận bị cáo trộm cắp tài sản và hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An phát biểu luận tội:
Lời khai nhận tội của bị cáo Trương Hoàng S phù hợp với lời khai của bị cáo, phù hợp các chứng cứ khác thu thập được trong quá trình điều tra thể hiện trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở xác định khoảng 03 giờ 40 phút, ngày 15/11/2022, tại phòng bảo vệ Công ty TNHH T2 thuộc ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An Trương Hoàng S có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là 01 máy tính bảng nhãn hiệu SamSung, màu đen, loại Tab A2016 trị giá 787.000 đồng của Trần Minh H. Sau đó, S tiếp tục đột nhập vào phòng bảo vệ Công ty TNHH H3 lén lút chiếm đoạt điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu đen, loại A71 trị giá 711.000 đồng của Thạch Sa H1 và tài sản là 01 điện thoại nhãn hiệu Oppo, màu tím, loại A3S trị giá 718.000 đồng của Danh H2 thì bị phát hiện bắt quả tang. Tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 2.216.000 đồng. Do đó, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố bị cáo Trương Hoàng S theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan sai.
Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Từ phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); tuyên bố bị cáo Trương Hoàng S phạm tội “Trộm cắp tài sản”; xử phạt bị cáo Trương Hoàng S mức hình phạt từ 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng tù.
- Về xử lý vật chứng: 01 máy tính bảng nhãn hiệu SamSung, màu đen, loại Tab A2016 ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu đen, loại A71 và điện thoại nhãn hiệu Oppo, màu tím, loại A3S thì cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Đ đã trả lại cho Trần Minh H, Thạch Sa H1 và Danh H2 vào cùng ngày 19/11/2022.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Trần Minh H, ông Thạch Sa H1, ông Danh H2 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác nên không đề cập.
- Về án phí: Bị cáo Trương Hoàng S phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết hành vi của bị cáo là sai và hối hận với hành vi phạm tội của mình, đề nghị hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị hại ông Trần Minh H, ông Thạch Sa H1, ông Danh H2 và người làm chứng ông Nguyễn Văn C, Hồ Minh T1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng xét thấy trong giai đoạn điều tra đã thể hiện đầy đủ lời khai và ý kiến của đương sự này nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đương sự này theo quy định tại điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh hiện trường, biên bản lời khai của bị hại, người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, qua đó đủ cơ sở xác định: Khoảng 03 giờ 40 phút, ngày 15/11/2022, tại phòng bảo vệ Công ty TNHH T2 thuộc ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An Trương Hoàng S có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là 01 máy tính bảng nhãn hiệu SamSung, màu đen, loại Tab A2016 trị giá 787.000 đồng của ông Trần Minh H. Sau đó, S tiếp tục đột nhập vào phòng bảo vệ Công ty TNHH H3 lén lút chiếm đoạt điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu đen, loại A71 trị giá 711.000 đồng của ông Thạch Sa H1 và tài sản là 01 điện thoại nhãn hiệu Oppo, màu tím, loại A3S trị giá 718.000 đồng của ông Danh H2 thì bị phát hiện bắt quả tang. Tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 2.216.000 đồng. Do đó, đủ cơ sở kết luận hành vi nêu trên của bị cáo Trương Hoàng S đủ yếu tố cấu thành tội “trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa truy tố bị cáo về hành vi theo tội danh nêu trên là đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp luật.
Xét, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì tham lam, thích hưởng lợi bất chính trên thành quả lao động của người khác nên đã lợi dụng sự sơ hở bất cẩn của người khác để chiếm đoạt tài sản. Vì vậy phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc mới tương xứng với hành vi phạm tội, cách ly khỏi xã hội một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tính tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa Kiểm sát viên đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng tù, Hội đồng xét xử xét thấy mức án mà Kiểm sát viên đề nghị là phù hợp nên chấp nhận.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả 01 máy tính bảng nhãn hiệu SamSung, màu đen, loại Tab A2016 cho ông Trần Minh H; đã trả 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu đen, loại A71 cho ông Thạch Sa H1 và đã trả điện thoại nhãn hiệu Oppo, màu tím, loại A3S cho ông Danh H2 là phù hợp nên Hồi đồng xét xử không đề cập.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Trần Minh H, ông Thạch Sa H1, ông Danh H2 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Trương Hoàng S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 và Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);
Xử phạt: Bị cáo Trương Hoàng S 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/11/2022.
2. Áp dụng khoản 1 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tiếp tục tạm giam bị cáo Trương Hoàng S 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (28/03/2023) để đảm bảo cho việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Trương Hoàng S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo xét xử phúc thẩm trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh Long An; - VKSND huyện Đức Hòa; - Công an huyện Đức Hòa; - Chi cục THADS huyện Đức Hòa; - Cơ quan THAHS huyện Đức Hòa; - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng; - Bị cáo; Bị hại; - Lưu hồ sơ; VP./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thùy Trang |