- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hiếu N và Trần Hoàng V - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hiếu N và Trần Hoàng V (tên gọi khác là D) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2023/HS-ST Ngày: 27/4/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Vũ
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Hòa
Bà Lê Thị Lan
- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Trần Khắc Huy - là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Trường Duy - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 14/2023/TLST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2023/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Hiếu N, sinh ngày 30 tháng 10 năm 1982 tại thành phố Hồ Chí Minh. Nơi cư trú: ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá: 3/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu T và bà Nguyễn Thị Kim P (đã chết); bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Kim H (đã ly hôn) và 01 con là Nguyễn Hiếu H, sinh năm: 2003; tiền án 02 lần: ngày 22 tháng 6 năm 2018 bị Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, chấp hành xong hình phạt tù ngày 26 tháng 01 năm 2019, chưa được xóa án tích; ngày 27 tháng 01 năm 2021 bị Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, chấp hành xong hình phạt tù ngày 16 tháng 3 năm 2022, chưa được xóa án tích; tiền sự: không; về nhân thân: từ nhỏ sống chung gia đình tại ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang, học hết lớp 3 nghỉ học ở nhà phụ giúp gia đình cho đến ngày phạm tội. Bị cáo bị tạm giữ ngày 05 tháng 11 năm 2022 chuyển tạm giam ngày 14 tháng 11 năm 2022 đến nay. (Bị cáo có mặt).
2. Trần Hoàng V (tên gọi khác: D), sinh ngày 19 tháng 02 năm 1997 tại tỉnh Tiền Giang. Nơi cư trú: ấp X, xã Y, huyện Z, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn D và bà Nguyễn Thị L; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; về nhân thân: từ nhỏ sống chung gia đình tại ấp X, xã Y, huyện Z, tỉnh Tiền Giang, học hết lớp 9 nghỉ học phụ giúp gia đình cho đến ngày phạm tội. Bị cáo bị tạm giữ ngày 05 tháng 11 năm 2022 chuyển tạm giam ngày 14 tháng 11 năm 2022 đến nay. (Bị cáo có mặt).
- Bị hại: Viễn thông TG
Trụ sở: số 01 đường L, phường M, thành phố N, tỉnh Tiền Giang
- Người đại diện hợp pháp của bị hại: ông Võ Anh S, sinh năm: 1977.
(vắng mặt). Nơi cư trú: đường Đ, khu G, thị trấn H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Ông Nguyễn Hữu T
sinh năm: 1963 (có mặt)
Nơi cư trú: ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang
2. Bà Nguyễn Thị L
sinh năm: 1986 (vắng mặt)
Nơi cư trú: ấp E, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Bị cáo Nguyễn Hiếu N có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” và 01 tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và bị cáo Trần Hoàng V (tên gọi khác D) là bạn bè của nhau, cả hai cùng là đối tượng sử dụng ma túy. Để có tiền tiêu xài cá nhân, trong khoảng thời gian từ ngày 02/7/2022 đến ngày 26/10/2022, bị cáo N và V đã nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp cáp viễn thông (loại cáp dùng để cung cấp dịch vụ viễn thông cho khách hàng thông thường) trên địa bàn các xã L, K và B, huyện C, tỉnh Tiền Giang, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Khoảng 21 giờ ngày 02 tháng 7 năm 2022, Trần Hoàng V điều khiển xe mô tô hiệu Magic biển số 63F2 - 7421 (xe do N mượn của cha ruột là ông Nguyễn Hữu T (cha ruột N), sinh năm 1963, thường trú ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang) chở Nguyễn Hiếu N trên Quốc lộ 1 về hướng Chợ G xã L, huyện C, khi đến đoạn đường đá thuộc ấp P, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang Vân phát hiện bên trái đường có trụ điện số 11, gần cầu Kênh N, thuộc ấp P, xã L, bên trên có gắn cáp viễn thông, V rủ N trộm cắp cáp viễn thông để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân thì N đồng ý, do không có dụng cụ để cắt cáp, nên V điều khiển xe chở N về chợ CB để mua kéo nhưng không có do đã khuya; V đi vào trong chợ CB nhặt được 01 cây kéo bằng kim loại, cán bọc nhựa màu đen và điều khiển xe chở N quay lại để cắt trộm cáp viễn thông. Khoảng 21 giờ 30 cùng ngày, cả hai quay lại trụ điện số 11 gần cầu Kênh N; V dừng xe lại, đi đến gần trụ điện dùng kéo cắt trộm được 10 m cáp viễn thông loại 50 đôi, tiết diện 50 x 2 x 0,5 mm, vỏ bằng nhựa màu đen, lõi đồng; còn N đứng ở gần xe cách trụ điện khoảng 06 m để cảnh giới. N thấy V cắt được cáp nên đã giúp V cuộn cáp viễn thông lại. Khoảng 22 giờ cùng ngày, N điều khiển xe chở V và cuộn dây cáp vừa cắt trộm được về khu đất trống gần nhà hàng Thái A, thuộc khu F, thị trấn H, huyện C, tỉnh Tiền Giang dùng lửa đốt lấy lõi đồng. Khoảng 03 giờ ngày 03/7/2022, N điều khiển xe mô tô biển số 63F2 - 7421 chở V đem lõi đồng vừa trộm cắp được đến vựa thu mua phế liệu Thái H, ở ấp A, xã P, huyện Z, tỉnh Tiền Giang bán cho chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1986 là chủ vựa được 420.000 đồng, cả hai tiêu xài cá nhân hết.
Bản kết luận định giá tài sản số 07/KLĐG-TTHS ngày 31 tháng 01 năm 2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện C kết luận: 10 m cáp viễn thông (điện thoại) loại 50 đôi, tiết diện 50 x 2 x 0,5 mm (tính giá trị khối lượng đồng khi thực hiện thanh lý do cáp đã hết thời gian khấu hao) trị giá 266.000 đồng.
Vụ thứ hai: Khoảng 22 giờ ngày 01 tháng 8 năm 2022, Trần Hoàng V điều khiển xe mô tô hiệu Magic biển số 63F2 - 7421 chở Nguyễn Hiếu N trên đường XM, thuộc khu G, thị H, huyện C, tỉnh Tiền Giang về hướng xã K, huyện C, tỉnh Tiền Giang khi đến đoạn đường XM (đoạn gần phà Cái T), thuộc ấp Q, xã K, huyện C, tỉnh Tiền Giang; V phát hiện bên phải đường có trụ điện số 201, trồng cặp đường XM, đoạn thuộc ấp Q, xã K, bên trên trụ điện có gắn cáp viễn thông, V rủ N trộm cắp cáp viễn thông để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân thì N đồng ý. V dừng xe lại, N mở cốp xe lấy cây kéo bằng kim loại, cán bọc nhựa màu đen đưa cho V, N ngồi ở vị trí xe canh giới, cách trụ điện số 201 khoảng 06 m, V đi đến gần cột điện dùng kéo cắt trộm 17 m dây cáp viễn thông loại 10 đôi, tiết diện 10 x 2 x 0,5 mm, vỏ bằng nhựa màu đen, lõi đồng. V phụ giúp cuộn cáp viễn thông lại. Khoảng 22 giờ 30 cùng ngày, N điều khiển xe mô tô biển số 63F2 - 7421 chở V và cuộn dây cáp vừa cắt trộm được về khu đất trống gần nhà hàng Thái A dùng lửa đốt lấy lõi đồng. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, N điều khiển xe mô tô biển số 63F2 - 7421 chở V đến nhà chị Nguyễn Thị L ở ấp A, xã P, huyện Z, tỉnh Tiền Giang V vào bên trong nhà bán số lõi đồng vừa trộm cắp được cho chị L được số tiền là 125.000 đồng, cả hai tiêu xài cá nhân hết.
Bản kết luận định giá tài sản số 07/KLĐG-TTHS ngày 31 tháng 01 năm 2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện C kết luận: 17 m cáp viễn thông (điện thoại) loại 10 đôi, tiết diện 10 x 2 x 0,5 mm, vỏ bằng nhựa màu đen, lõi đồng (tính giá trị khối lượng đồng khi thực hiện thanh lý do cáp đã hết thời gian khấu hao) trị giá 90.440 đồng.
Vụ thứ ba: Khoảng 23 giờ, ngày 15 tháng 8 năm 2022, bị cáo V điều khiển xe mô tô hiệu Magic biển số 63F2 - 7421 chở N trên đường đan hướng về xã K, khi đến đoạn đường gần rạch Bà H, thuộc ấp Quí, xã K, huyện C, tỉnh Tiền Giang, V phát hiện bên phải cặp đường đan có trụ điện số 13A, bên trên có gắn cáp viễn thông kéo ngang qua rạch Bà H đến trụ điện số 7/3, trồng cặp đường nhựa, thuộc ấp Quí, xã K; V rủ N trộm cắp cáp viễn thông để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân thì N đồng ý, V dừng xe lại cách trụ điện 13A khoảng 06 m, N mở cốp xe lấy cây kéo bằng kim loại, cán bọc nhựa màu đen đưa cho V, N thì ngồi ở ngoài xe canh giới, V đi đến gần trụ điện số 13A dùng kéo cắt một đầu dây cáp trên trụ điện 13A. V tiếp tục điều khiển xe mô tô biển số 63F2 - 7421 chở N sang trụ điện số 7/3, V dùng kéo bằng kim loại cắt đứt phần dây cáp gắn trên trụ điện 7/3, tổng chiều dài đoạn cáp viễn thông V cắt trộm 34,3 m dây cáp viễn thông loại 10 đôi, tiết diện 10 x 2 x 0,5 mm, vỏ bằng nhựa màu đen, lõi đồng. N thấy V cắt được cáp nên đã giúp V cuộn cáp viễn thông lại. Khoảng 23 giờ 30 cùng ngày, N điều khiển xe mô tô biển số 63F2 - 7421 chở V và cuộn dây cáp vừa cắt trộm được về khu đất trống gần nhà hàng Thái A dùng lửa đốt lấy lõi đồng. Đến khoảng 02 giờ ngày 16 tháng 8 năm 2022, N điều khiển xe mô tô biển số 63F2 - 7421 chở V đến nhà chị Nguyễn Thị L, V vào bên trong nhà bán số lõi đồng vừa trộm cắp được cho chị L được số tiền là 250.000 đồng, cả hai tiêu xài cá nhân hết.
Bản kết luận định giá tài sản số 07/KLĐG-TTHS ngày 31 tháng 01 năm 2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện C kết luận: 34,3 m cáp viễn thông (điện thoại) loại 10 đôi, tiết diện 10 x 2 x 0,5 mm, vỏ bằng nhựa màu đen, lõi đồng (tính giá trị khối lượng đồng khi thực hiện thanh lý do cáp đã hết thời gian khấu hao) trị giá 182.476 đồng.
Vụ thứ tư: Khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 25 tháng 9 năm 2022, Trần Hoàng V điều khiển xe mô tô hiệu Magic biển số 63F2 - 7421 chở Nguyễn Hiếu N trên đường huyện lộ 74 theo hướng ra Quốc lộ 1 và rẽ phải về hướng thành phố N, tỉnh Tiền Giang, khi đến km 2008 + 200 m Quốc lộ 1, gần Cụm Công nghiệp An T, thuộc ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang V và N phát hiện bên phải cặp Quốc lộ 1, đoạn thuộc ấp A, xã B có trụ điện số 155, bên trên trụ điện có gắn cáp viễn thông, V rủ N trộm cắp dây cáp viễn thông bán lấy tiền tiêu xài cá nhân thì N đồng ý. V dừng xe lại cách trụ điện 6,4 m, N mở cốp xe lấy cây kéo cán màu đen, lưỡi bằng kim loại đưa cho V, N ngồi tại vị trí xe cảnh giới, V đi đến gần trụ điện dùng kéo cắt trộm 17,5 m dây cáp viễn thông loại 200 đôi, tiết diện 200 x 2 x 0,5 mm, vỏ bằng nhựa màu đen, lõi đồng. N thấy V cắt được cáp nên đã giúp V cuộn cáp viễn thông lại. Khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, V điều khiển xe chở N và cuộn dây cáp vừa cắt trộm được về khu đất trống gần nhà hàng Thái A dùng lửa đốt lấy lõi đồng. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, N điều khiển xe mô tô biển số 63F2 - 7421 chở V đến nhà chị Nguyễn Thị L, V vào bên trong nhà bán bán số lõi đồng vừa trộm cắp được cho chị L được số tiền là 690.000 đồng, cả hai tiêu xài cá nhân hết.
Khoảng 01 giờ, ngày 26 tháng 9 năm 2022, V điều khiển xe mô tô biển số 63F2 - 7421 chở N quay lại trụ điện số 155 cặp Quốc lộ 1, gần Cụm Công nghiệp An T, V tiếp tục đến gần trụ điện cắt trộm 13,6 m dây cáp viễn thông loại 50 đôi, tiết diện 50 x 2 x 0,5 mm, vỏ bằng nhựa màu đen, lõi đồng, còn N đứng ngoài xe cảnh giới, cách trụ điện 6,4 m. N thấy V cắt được cáp nên đã giúp V cuộn cáp viễn thông lại. Khoảng 01 giờ 30 cùng ngày, V điều khiển xe chở N và cuộn dây cáp vừa cắt trộm được về khu đất trống gần nhà hàng Thái A dùng lửa đốt lấy lõi đồng. Đến khoảng 02 giờ, ngày 26 tháng 9 năm 2022, N điều khiển xe mô tô biển số 63F2 - 7421 chở V đến nhà chị Nguyễn Thị L, V vào bên trong nhà bán số lõi đồng vừa trộm cắp được cho chị L với số tiền là 200.000 đồng, cả hai mua ma túy sử dụng và tiêu xài cá nhân hết.
Bản kết luận định giá tài sản số 07/KLĐG-TTHS ngày 31 tháng 01 năm 2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện C kết luận: 17,5 m cáp viễn thông (điện thoại) loại 200 đôi, tiết diện 200 x 2 x 0,5 mm, vỏ bằng nhựa màu đen, lõi đồng (tính giá trị khối lượng đồng khi thực hiện thanh lý do cáp đã hết thời gian khấu hao) trị giá 1.862.000 đồng và 13,6 m cáp viễn thông (điện thoại) loại 50 đôi, tiết diện 50 x 2 x 0,5 mm (tính giá trị khối lượng đồng khi thực hiện thanh lý do cáp đã hết thời gian khấu hao) vỏ bằng nhựa màu đen, lõi đồng trị giá 361.760 đồng. Tổng cộng là: 2.223.760 đồng.
Vụ thứ năm: Khoảng 22 giờ, ngày 25 tháng 10 năm 2022, Trần Hoàng V rủ Nguyễn Hiếu N đi trộm cắp cáp viễn thông để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân thì N đồng ý. V điều khiển xe mô tô hiệu Magic biển số 63F2 - 7421 chở N từ nhà trọ Tân Hiếu H, thuộc khu G, thị trấn H, huyện C, tỉnh Tiền Giang trên đường huyện lộ 74 theo hướng ra Quốc lộ 1 và chạy ngược chiều về hướng Mỹ T, tỉnh Tiền Giang, khi đến đoạn đường gần cầu Bà P cặp Quốc lộ 1, thuộc ấp P, xã K, huyện C, tỉnh Tiền Giang V và N phát hiện bên phải cặp Quốc lộ 1 có trụ điện số 186, trồng trước phần đất vườn của ông Lý Chí T, đoạn thuộc ấp P, xã K, bên trên có gắn cáp viễn thông; V dừng xe lại, N mở cốp xe lấy cây kéo bằng kim, cán bọc nhựa màu đen và cây kiềm bằng loại, cán bọc nhựa màu đỏ đưa cho V, N thì ngồi ở ngoài xe cảnh giới, V đi đến gần cột điện dùng kéo và kiểm cắt trộm 41,7 m dây cáp viễn thông (điện thoại) loại 100 đôi, tiết diện 100 x 2 x 0,5 mm, vỏ bằng nhựa màu đen, lõi đồng chia thành 02 đoạn. N thấy V cắt được cáp nên đã giúp V cuộn 01 đoạn cáp viễn thông lại, còn lại 01 cuộn cáp viễn thông thì để lại hiện trường. Đến 23 giờ cùng ngày, V điều khiển xe chở N và cuộn dây cáp vừa cắt trộm được về khu đất trống gần nhà hàng Thái A dùng lửa đốt lấy lõi đồng. Khoảng 02 giờ ngày 26 tháng 10 năm 2022, N điều khiển xe mô tô biển số 63F2 - 7421 chở V đến nhà chị Nguyễn Thị L, V vào bên trong nhà bán số lõi đồng vừa trộm cắp được cho chị L với số tiền là 500.000 đồng, cả hai mua ma túy sử dụng và tiêu xài cá nhân hết.
Đến khoảng 12 giờ, ngày 26 tháng 10 năm 2022, V điều khiển xe mô tô biển số 63F2 - 7421 chở N quay lại có trụ điện số 186, trồng trước phần đất vườn của ông Lý Chí T, V tiếp tục trộm cắp đoạn dây cáp viễn thông do V đã cắt để lại trước đó, N ở ngoài xe cảnh giới. Sau đó, N điều khiển xe mô tô biển số 63F2 - 7421 chở V và đoạn dây cáp viễn thông vừa trộm cắp được về khu đất trống gần nhà hàng Thái A dùng lửa đốt lấy lõi đồng. Khoảng 12 giờ 30 cùng ngày, N điều khiển xe mô tô biển số 63F2 - 7421 chở V đến nhà chị Nguyễn Thị L, V vào bên trong nhà bán số lõi đồng vừa trộm cắp được cho chị L với số tiền là 300.000 đồng, cả hai tiêu xài cá nhân hết.
Bản kết luận định giá tài sản số 83/KLĐG-TTHS ngày 05 tháng 11 năm 2022 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện C kết luận: 41,7 m cáp viễn thông (điện thoại) loại 100 đôi, tiết diện 100 x 2 x 0,5 mm, vỏ bằng nhựa, màu đen (tính khối lượng đồng khi thực hiện thanh lý do cáp đã hết thời gian khấu hao) trị giá 2.218.440 đồng.
Vật chứng thu giữ của vụ án: 01 cây kéo bằng kim loại, cán bọc nhựa màu đen; 01 cây kiềm bằng kim loại, cán bọc nhựa màu đỏ; 01 xe mô tô hiệu Magic biển số 63F2 - 7421. Ngày 01 tháng 02 năm 2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang đã trao trả xe mô tô biển số 63F2 - 7421 cho chủ xe là ông Nguyễn Hữu T. Đối với các vật chứng còn lại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C còn đang tạm giữ.
Về trách nhiệm dân sự: Đại diện ủy quyền cho bị hại là ông Võ Anh S - Giám đốc Trung tâm Viễn thông CB yêu cầu bị cáo Trần Hoàng V và Nguyễn Hiếu N phải liên bồi thường cho Viễn thông TG tổng giá trị tài sản thiệt hại là 4.981.116 đồng. Quá trình điều tra, bị cáo V và N đã tự nguyện tác động gia đình bồi thường cho bị hại 3.602.000 đồng (trong đó gia đình V đã bồi thường 2.602.000 đồng, gia đình N đã bồi thường 1.000.000 đồng) còn lại 1.379.116 đồng, bị cáo N đồng ý bồi thường nhưng chưa bồi thường.
Tại bản cáo trạng số 14/CT-VKSCB ngày 02 tháng 3 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang truy tố các bị cáo Nguyễn Hiếu N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Trần Hoàng V về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hiếu N, Trần Hoàng V về tội “Trộm cắp tài sản”; đề nghị áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo N từ 03 đến 04 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính tứ ngày bị tạm giữ là ngày 05 tháng 11 năm 2022; đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo V từ 15 đến 18 tháng tù. Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự.
Lời nói sau cùng của bị cáo N: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm về lo cho cha và giúp ích cho xã hội.
Lời nói sau cùng của bị cáo V: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Hiếu N và Trần Hoàng V đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình là trong khoảng thời gian từ ngày 02 tháng 7 năm 2022 đến ngày 26 tháng 10 năm 2022, trên địa bàn các xã L, K và B, huyện C, tỉnh Tiền Giang 02 bị cáo đã thực hiện nhiều vụ trộm cắp cáp viễn thông của Viễn thông TG với tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 4.981.116 đồng. Trong đó, bị cáo Nguyễn Hiếu N thực hiện 05 vụ trộm cắp tài sản với tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 4.981.116 đồng; bị cáo Trần Hoàng V thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản với giá trị tài sản từng lần trộm trên 2.000.000 đồng, tổng cộng là 4.442.200 đồng và 03 vụ trộm cắp cáp viễn thông vào ngày 02 tháng 7 năm 2022, 01 tháng 8 năm 2022 và ngày 15 tháng 8 năm 2022 tại địa bàn các xã L và K, huyện C, tỉnh Tiền Giang nhưng giá trị tài sản của 03 lần trộm này dưới 2.000.000 đồng và bị cáo V do không có tiền án, tiền sự nên Cơ quan Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bị cáo V đối với 03 lần trộm này với số tiền là 3.000.000 đồng.
Lời thừa nhận tội của các bị cáo là hoàn toàn phù hợp với lời khai người đại diện hợp pháp của bị hại, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa; phù hợp các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ cơ sở để kết luận hành vi phạm tội của bị cáo N đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; hành vi phạm tội của bị cáo V đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nó đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của Viễn thông TG được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương nơi xảy ra vụ án, gây tư tưởng hoang man lo sợ việc mất cắp tài sản trong nhân dân. Bản thân các bị cáo nhận thức được rằng trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vì muốn có tiền để sử dụng ma túy và tiêu xài cá nhân mà các bị cáo quyết tâm thực hiện tội phạm đến cùng bằng cách lợi dụng đêm tối là lúc ít người qua lại và sự mất cảnh giác của bị hại để trộm tài sản cho thấy sự xem thường pháp luật của các bị cáo. Do đó, cần áp dụng một mức hình phạt tương xứng đối với hành vi phạm tội của từng bị cáo là cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bản thân các bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời cũng để phòng ngừa chung cho những ai đang có tư tưởng trộm cắp tài sản của người khác như các bị cáo. Trong vụ án này, bị cáo V là người rủ rê và thực hiện tội phạm; bị cáo N là người giúp sức và thực hiện tội phạm. Tuy vậy, cũng cần cá thể hóa hành vi phạm tội của các bị cáo để xác định hình phạt của từng bị cáo như sau:
Đối với bị cáo N là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự lại không lo làm ăn mà lại có hành vi trộm cắp tài sản (mít) vào ngày 10 tháng 02 năm 2018 nên ngày 26 tháng 6 năm 2018 bị Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang xử phạt 01 năm tù, chưa được xóa án tích lại tái phạm vì có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang xử phạt 02 năm tù ngày 27 tháng 01 năm 2021, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù lần xử phạt này ngày 16 tháng 3 năm 2022 lẽ ra bị cáo phải biết sửa đổi, nhưng khi được bị cáo V rủ rê đi trộm bị cáo phải từ chối và khuyên bị cáo V không thực hiện hành vi phạm tội mà trái lại bị cáo đã giúp sức cho bị cáo V và cùng bị cáo V từ ngày 02 tháng 7 năm 2022 đến ngày 26 tháng 10 năm 2022 thực hiện 05 vụ trộm cắp cáp viễn thông của Viễn thông TG mà không sợ bị phát biện; lần phạm tội này của bị cáo là tái phạm nguy hiểm. Xét thấy, bị cáo N có nhân thân xấu, bị cáo phạm tội với tình tiết tăng nặng là “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g, khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Do đó, bị cáo N phải chịu hình phạt nặng hơn bị cáo V.
Tuy nhiên Hội đồng xét xử có xem xét giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo N do bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải và nhận tội, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường hơn ½ thiệt hại cho bị hại. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đối với bị cáo V tuy không có tiền án, tiền sự nhưng bị cáo là người rủ rê và cùng bị cáo N thực hiện 05 vụ trộm cắp cáp viễn thông của Viễn thông TG nhưng chỉ tính bị cáo 02 vụ (trong đó có 03 vụ tài sản trộm dưới 2.000.000 đồng đã bị xử phạt vi phạm hành chính) trong khoảng thời gian từ ngày 02 tháng 7 năm 2022 đến ngày 26 tháng 10 năm 2022 mà không sợ bị phát hiện nên bị cáo V phạm tội cũng thuộc tình tiết tăng nặng là “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Do đó, bị cáo V cũng phải chịu xử phạt nhưng nhẹ hơn bị cáo N.
Tuy nhiên Hội đồng xét xử có xem xét giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo V do bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải và nhận tội, bị cáo cũng đã tác động gia đình bồi thường hơn ½ thiệt hại cho bị hại. Ngoài ra bị cáo có ông nội là người có công với cách mạng có xác nhận của chính quyền địa phương. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra ông Võ Anh S là người đại diện theo ủy quyền của bị hại Viễn thông TG yêu cầu các bị cáo tiếp tục bồi thường giá trị tài sản thiệt hại còn lại số tiền là 1.379.116 đồng, tại phiên tòa bị cáo N đồng ý bồi thường nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về vật chứng trong vụ án hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện C hiện đang tạm giữ gồm: 01 cây kéo bằng kim loại, cán bọc nhựa màu đen; 01 cây kiềm bằng kim loại, cán bọc nhựa màu đỏ. Xét thấy, đây là công cụ các bị cáo dùng vào việc phạm tội và không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với ông Nguyễn Hữu T cha ruột bị cáo N là chủ sở hữu xe mô tô hiệu Magic, biển số 63F2 - 7421, việc bị cáo N cùng với bị cáo V điều khiển xe mô tô biển số 63F2 - 7421 đi trộm cắp tài sản ông T không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không đặt ra xem xét đối với ông T là phù hợp.
Đối với chị Nguyễn Thị L là chủ vựa thu mua phế liệu Thái H có hành vi mua tài sản do các bị cán trộm mà có, nhưng hiện tại chị L đã bỏ địa phương đi không rõ ở đâu, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang tiếp tục xác minh làm rõ sẽ xử lý sau là phù hợp.
Ngoài ra, quá trình điều tra bị cáo V khai, ngoài 05 vụ trộm cắp trên, bị cáo V còn thực hiện 01 vụ trộm cắp cáp viễn thông khác ở khu vực gần khách sạn Đông N thuộc ấp X, xã Y, huyện Z, tỉnh Tiền Giang (không nhớ rõ thời gian) và cùng với Phạm Trọng Q (bạn bị cáo V), sinh năm: 1995, thường trú: ấp X, xã Y, huyện Z, tỉnh Tiền Giang thực hiện 02 vụ trộm cắp cáp viễn thông ở xã Y và xã T, huyện Z, tỉnh Tiền Giang (không nhớ rõ thời gian). Ngày 18 tháng 01 năm 2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang đã thông báo cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Z, tỉnh Tiền Giang biết để thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền là đúng quy định.
Ngoài ra, theo kết quả xét nghiệm ngày 04 tháng 11 năm 2022 và ngày 05 tháng 11 năm 2022 xác định bị cáo N và bị cáo V sử dụng trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, cả hai bị cáo đã sử dụng hết số ma túy này và cũng không xác định được người bán ma túy cho 02 bị cáo là ai nên Cơ quan điều tra chỉ xử lý hành chính đối với 02 bị cáo là phù hợp.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Cái Bè, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hiếu N và Trần Hoàng V (tên gọi khác là D) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1.1 Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hiếu N 04 (bốn) năm. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 05 tháng 11 năm 2022.
1.2 Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Trần Hoàng V 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 05 tháng 11 năm 2022.
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 584, 585, 589 Bộ luật dân sự năm 2015.
Bị cáo Nguyễn Hiếu N phải bồi thường cho Viễn thông TG giá trị tài sản thiệt hại còn lại số tiền là 1.379.116 đồng (một triệu ba trăm bảy mươi chín nghìn một trăm mười sáu đồng) làm 01 lần sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
3. Về vật chứng: áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy: 01 cây kéo bằng kim loại, cán bọc nhựa màu đen; 01 cây kiềm bằng kim loại, cán bọc nhựa màu đỏ hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Tiền Giang đang tạm giữ.
4. Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
4.1 Bị cáo Nguyễn Hiếu N phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
4.2 Bị cáo Trần Hoàng V phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Hiếu N, Trần Hoàng V được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm. Ông Nguyễn Hữu T được quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm. Viễn thông TG được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - Các bị cáo; - Những người tham gia tố tụng khác; - VKS nhân dân huyện C; - Nhà tạm giữ Công an huyện C; - Chi cục THA dân sự huyện C; - Lưu hồ sơ vụ án. | Nguyễn Thanh Vũ |