- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh Th, Nguyễn Văn Tr - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh Th và bị cáo Nguyễn Văn Tr phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH TÂN TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2023/HS-ST Ngày: 17 - 5 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH TÂN, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Hùng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trương Văn Ánh
Ông Lê Ngọc Hải
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thanh Điền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Phú - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai (bằng hình thức trực tuyến tại hai điểm cầu: Điểm cầu trung tâm tại Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long và điểm cầu thành phần tại Hội trường Ủy ban nhân dân xã Tân Bình, huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long) vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 18/2023/TLST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2023/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Thanh Th, sinh ngày 19/9/1990, tại huyện BT, tỉnh V; Nơi cư trú: Tổ 05, ấp Tân T, xã Tân B, huyện BT, tỉnh V; Nghề nghiệp: Mua bán; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn D và bà Nguyễn Thị Thu H; có vợ Nguyễn Thị Thu H (đã ly hôn) và có 03 con (lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2019); Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: tốt. Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.
2. Nguyễn Văn Tr, sinh ngày 25/10/1996, tại huyện BT, tỉnh V; Nơi cư trú: Ấp Tân M, xã Tân T, huyện BT, tỉnh V; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh H và bà Nguyễn Thị L; chưa có vợ con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Tốt. Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
1. Anh Lê Minh T, sinh năm 1990. Nơi cư trú: Tổ 05, ấp Thành N, xã Thành L, huyện BT, tỉnh V. (vắng mặt)
2. Anh Mai Văn N, sinh năm 1985. Nơi cư trú: Tổ 04, khóm Thành Q, thị trấn Tân Q, huyện BT, tỉnh V. (vắng mặt)
- Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1968. Nơi cư trú: Tổ 09, ấp Tân P, xã Tân B, huyện BT, tỉnh V. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thanh Th là anh em bà con với Nguyễn Văn Tr. Còn Lê Minh T là bạn bè với Th.
Vào khoảng 01 tuần trước ngày 25/11/2022, Nguyễn Thanh Th và anh Lê Minh T cùng đi mua đậu bắp tại ruộng của ông Tám P ở xã Tân T, huyện BT, tỉnh V, do Th mua giá cao hơn T 1.000 đồng/kg nên xảy ra mâu thuẫn với nhau.
Đến khoảng 08 giờ sáng, ngày 25/11/2022 Nguyễn Thanh Th đi đến ruộng đậu bắp của ông Nguyễn Văn M ở ấp Thành T, xã Thành L, huyện BT, tỉnh V để cân mua đậu bắp. Trong lúc cân đậu bắp, thì bà Nguyễn Thị H (vợ của ông M) nói có người hỏi mua đậu bắp của anh M với giá 15.000 đồng/kg (cao hơn giá Th mua là 1.000đồng/kg). Lúc này, Nguyễn Thanh Th cho rằng anh Lê Minh T mua đậu bắp phá giá, nên Th điện thoại kêu anh T đến ruộng đậu bắp của ông M để nói chuyện. Anh Lê Minh T mới chạy xe đến gặp Th thì hai người xảy ra cự cãi. Nguyễn Thanh Th mới kêu anh T đi ra ngoài lộ đal (phía trước ruộng đậu bắp của ông M) để nói chuyện tiếp. Khi đó, T nghĩ Th tiếp tục kiếm chuyện với T nên điện thoại cho anh vợ là anh Mai Văn N nói “Thằng Th kiếm chuyện” kêu anh N đến ruộng đậu bắp của ông M để tiếp T khi có đánh nhau. Cùng lúc đó, Th cũng điện thoại cho em là Nguyễn Văn Tr kêu đến ruộng đậu bắp của ông M để phụ tiếp Th thì Tr đồng ý. Nguyễn Văn Tr lấy 01 bình xịt hơi cay và 01 con dao bằng kim loại để vào giỏ xách đựng đồ rẫy rồi điều khiển xe đến gặp Th.
Sau khi anh Lê Minh T điện thoại cho anh N xong thì anh T đi bộ ra lộ đal để lấy xe đi về thì Th ngăn cản anh T lại, không cho anh T đi về. Lúc này, Nguyễn Văn Tr và anh Mai Văn N cũng vừa chạy xe đến. Anh N mới nói với anh T “Dứt đi, dứt đi” thì Th chạy lại dùng tay phải đánh 03 cái trúng vào vùng mặt của anh N. Thấy anh N bị đánh, anh T mới chạy lại tiếp anh N thì bị Tr cầm bình xịt hơi cay xịt vào mặt của anh T và anh N; còn Th thì dùng tay phải đánh tiếp trúng vào vai phải của anh T làm anh T té ngã xuống hàng rào lưới B40 ở cặp lộ đal. Anh N chạy lại định đánh Tr thì bị Tr cầm dao chém trúng 01 cái vào bả vai trái của anh N, anh N bỏ chạy đi. Tr bỏ bình xịt hơi cay và con dao xuống lộ dal, rồi dùng tay đánh trúng 01 cái vào vai phải của anh T, còn Th thì dùng chân trái đạp 03 cái trúng vào vai phải của anh T rồi không đánh nữa. Sau khi gây thương tích cho anh N và anh T thì Th và Tr lên xe đi về, còn anh T thì được đưa đến Trung tâm Y tế huyện BT, tỉnh V; anh N thì đến Bệnh viện mắt C điều trị thương tích và được cho về trong ngày.
Đến ngày 05/12/2022 và ngày 07/12/2022 anh Mai Văn N, anh Lê Minh T làm đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với Th và Tr.
Căn cứ vào kết luận giám định pháp y về thương tích số 300, 301 ngày 30/12/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh V kết luận thương tích của anh Mai Văn N là 04%, anh Lê Minh T là 01%.
Qua điều tra, Nguyễn Thanh Th và Nguyễn Văn Tr đã thừa nhận hành vi gây thương tích cho anh Mai Văn N, anh Lê Minh T như đã nêu trên.
Xét thấy đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện BT, tỉnh V ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Thanh Th và Nguyễn Văn Tr về tội "Cố ý gây thương tích” và ra Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú để điều tra cho đến nay.
Vật chứng thu giữ:
- 01 (một) bình xịt hơi cay màu đen có dòng chữ TAKE DOWN, đã qua sử dụng.
- 01 con dao bằng kim loại dài 38cm, mũi bằng, đã qua sử dụng.
Về trách nhiệm dân sự:
Anh Mai Văn N và anh Lê Minh T yêu cầu Th và Tr liên đới bồi thường tiền điều trị thương tích, tiền công lao động cho anh N số tiền 4.082.000 đồng, anh T số tiền 5.254.000 đồng. Th và Tr đã bồi thương xong. Sau khi nhận được tiền thì anh T và anh N không yêu cầu gì thêm.
Tại cáo trạng số: 21/CT-VKSBT ngày 31/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện BT, tỉnh V đã truy tố các bị cáo Nguyễn Thanh Th và Nguyễn Văn Tr về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, sau khi phân tích các yếu tố cấu thành tội phạm, tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hậu quả, nhân thân của các bị cáo, năng lực trách nhiệm hình sự, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Viện kiểm sát nhân dân huyện BT, tỉnh V vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Nguyễn Thanh Th và Nguyễn Văn Tr về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thanh Th và Nguyễn Văn Tr phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Về hình phạt: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134, Điều 17, 58, 65; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Tr từ 01 (một) năm tù đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng được hưởng án treo, với thời gian thử thách từ 02 (hai) năm đến 03 (ba) năm.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh Th từ 09 (chín) tháng tù đến 01 (một) năm tù nhưng được hưởng án treo, với thời gian thử thách từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, xử lý:
Đối với 01 bình xịt hơi cay bị cáo Tr sử dụng để gây thương tích cho anh T và N, đây là công cụ hỗ trợ. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện BT đã bàn giao bình xịt hơi cay cho Đội quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an huyện BT quản lý, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận không đặt ra xem xét, giải quyết.
Đối với 01 con dao bằng kim loại dài 38 cm, mũi bằng, đã qua sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Về trách nhiệm dân sự:
Anh Mai Văn N và anh Lê Minh T yêu cầu bị cáo Nguyễn Thanh Th và bị cáo Nguyễn Văn Tr liên đới bồi thường tiền điều trị thương tích, tiền công lao động cho anh N số tiền 4.082.000 đồng; cho anh T số tiền 5.254.000 đồng. Bị cáo Th và Tr đã bồi thường xong. Sau khi nhận được tiền thì anh T và anh N không yêu cầu gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Nguyễn Thanh Th và Nguyễn Văn Tr mỗi bị cáo nộp số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo Nguyễn Thanh Th và Nguyễn Văn Tr khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện BT, tỉnh V đã truy tố, các bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nói lời sau cùng các bị cáo Th, Tr xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện BT, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện BT, tỉnh V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Qua quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, các bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Trong vụ án, các bị hại anh Lê Minh T, anh Mai Văn N và người làm chứng ông Nguyễn Văn M đã được Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập đến tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Tuy nhiên, các bị hại và người làm chứng đã có lời khai tại Cơ quan điều tra. Xét thấy, việc vắng mặt bị hại và người làm chứng không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 292, 293 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021).
Xét lời khai nhận của các bị cáo Nguyễn Thanh Th và Nguyễn Văn Tr tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai của những người bị hại, người làm chứng, kết luận giám định pháp y về thương tích, vật chứng thu giữ được và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa. Có đủ căn cứ xác định: Vào khoảng 08 giờ, ngày 25/11/2022 bị cáo Nguyễn Thanh Th đi đến ruộng đậu bắp của ông Nguyễn Văn M ở ấp Thành T, xã Thành L, huyện BT, tỉnh V để cân mua đậu bắp thì biết được có người hỏi mua đậu bắp của ông M với giá 15.000 đồng/kg (cao hơn giá bị cáo Th mua là 1.000đồng/kg). Bị cáo Th nghĩ là anh Lê Minh T mua đậu bắp phá giá, nên bị cáo Th điện thoại kêu anh T đến ruộng đậu bắp của ông M để nói chuyện. Anh Lê Minh T đến gặp bị cáo Th thì hai người xảy ra cự cãi. Bị cáo Th mới kêu anh T đi ra ngoài lộ đal (phía trước ruộng đậu bắp của ông M) để nói chuyện tiếp. Lúc này, anh T nghĩ bị cáo Th tiếp tục kiếm chuyện với mình nên điện thoại cho anh Mai Văn N nói “Thằng Th kiếm chuyện” kêu anh N đến ruộng đậu bắp của ông M để tiếp T. Cùng lúc đó, bị cáo Th cũng điện thoại kêu em là bị cáo Nguyễn Văn Tr đến ruộng đậu bắp của ông M để phụ tiếp Th đánh nhau thì bị cáo Tr đồng ý. Bị cáo Tr mới lấy theo 01 bình xịt hơi cay và 01 con dao bằng kim loại để vào giỏ xách đựng đồ rẩy rồi điều khiển xe đến gặp bị cáo Th. Sau khi anh Lê Minh T điện thoại cho anh N thì anh T đi bộ ra lộ đal để lấy xe đi về thì bị cáo Th ngăn cản anh T lại, không cho anh T đi về. Lúc này, bị cáo Tr và anh N cũng vừa chạy xe đến. Anh N mới nói với anh T “Dứt đi, dứt đi” thì bị cáo Th chạy lại dùng tay phải đánh trúng vào vùng mặt của anh N. Bị cáo Tr cầm bình xịt hơi cay xịt vào mặt của anh T và anh N; bị cáo Th thì dùng tay đánh tiếp vào vai phải của anh T làm anh T té ngã xuống hàng rào lưới B40 ở cặp lộ đal. Anh N chạy lại định đánh bị cáo Tr thì bị bị cáo Tr cầm dao chém trúng 01 cái vào vai trái của anh N, rồi anh N bỏ chạy đi. Bị cáo Tr dùng tay đánh trúng vào vai phải của anh T, còn bị cáo Th thì dùng chân trái đạp vào vai phải của T, gây thương tích.
Ngày 05/12/2022 và ngày 07/12/2022 anh Mai Văn N, anh Lê Minh T làm đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với bị cáo Th và bị cáo Tr.
Kết quả giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của anh Mai Văn N là 04%, anh Lê Minh T là 01%.
Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Thanh Th và bị cáo Nguyễn Văn Tr đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long truy tố các bị cáo Nguyễn Thanh Th, Nguyễn Văn Tr với tội danh cùng điều luật nêu trên là có căn cứ, hoàn toàn đúng người, đúng tội.
. Về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội: Tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, nhưng hành vi của các bị cáo Nguyễn Thanh Th và Nguyễn Văn Tr là nguy hiểm cho xã hội, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ trong việc làm ăn, mua bán mà các bị cáo đã dùng bình xịt hơi cay, dùng dao để tấn công các bị hại gây thương tích. Bình xịt hơi cay và dao là hung khí nguy hiểm, vì khi sử dụng để tấn công người khác sẽ gây nguy hiểm đến tính mạng hoặc sức khỏe của người bị tấn công, mà cụ thể là bị hại N bị thương tích 4%, bị hại T bị thương tích 01%. Hành vi của các bị cáo Th, Tr thể hiện ý thức xem thường pháp luật, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác một cách trái pháp luật, gây mất trật tự trị an ở địa phương.
Trong vụ án này, các bị cáo phạm tội với vai trò đồng phạm giản đơn, các bị cáo không có bàn bạc trước, khi được bị cáo Th rủ đánh nhau với anh T và anh N thì bị cáo Tr đồng ý, nên các bị cáo cùng chung ý chí muốn đánh cho được anh T và anh N. Bị cáo Th dùng tay đánh anh N và dùng tay đánh, dùng chân đạp vào người anh T; còn bị cáo Tr thì dùng bình xịt hơi cai xịt vào mặt anh T và anh N, dùng dao chém vào người anh N và dùng tay đánh vào người anh T. Hành vi của bị cáo Tr nguy hiểm hơn vì bị cáo Tr là người đem theo hung khí và trực tiếp dùng dao chém vào người anh N gây thương tích. Còn bị cáo Th là người kêu bị cáo Tr đến tiếp, nhưng bị cáo Th chỉ đánh bằng tay và chân gây thương tích nên mức độ nguy hiểm thấp hơn, vì vậy mức hình phạt áp dụng cho bị cáo Tr phải cao hơn bị cáo Th. Xét tính chất vụ án, mức độ và hành vi phạm tội của các bị cáo cần phải xử lý thật nghiêm nhằm răn đe, giáo dục các bị cáo biết tôn trọng sức khỏe của người khác, đồng thời cũng nhằm mục đích phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo Th, Tr đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; các bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho các bị hại xong. Trong vụ án cũng có một phần lỗi từ phía các bị hại như anh T điện thoại kêu anh N lại trước và đến khi gặp nhau thì bị hại N nói “dứt đi, dứt đi” cũng là nguyên nhân dẫn đến đánh nhau gây thương tích.
Xét thấy, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, các bị cáo cũng đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Do đó, không cần cách ly các bị cáo khỏi xã hội vẫn đảm bảo việc răn đe, cải tạo, giáo dục các bị cáo Th, Tr.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Th, Tr không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội các bị cáo Th, Tr đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự và đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho các bị hại; nguyên nhân các bị cáo phạm tội cũng có một phần lỗi xuất phát từ phía các bị hại, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về trách nhiệm dân sự:
Anh Mai Văn N và anh Lê Minh T yêu cầu bị cáo Nguyễn Thanh Th và bị cáo Nguyễn Văn Tr liên đới bồi thường tiền điều trị thương tích, tiền công lao động cho anh N số tiền 4.082.000 đồng, anh T số tiền 5.254.000 đồng. Bị cáo Th và Tr đã bồi thường xong. Sau khi nhận được tiền thì anh T và anh N không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 bình xịt hơi cay bị cáo Tr sử dụng để gây thương tích cho anh T và anh N, đây là công cụ hỗ trợ. Ngày 08/3/2023 Công an huyện BT, tỉnh V có Công văn đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện BT ra Quyết định xử phạt hành chính đối với bị cáo Tr về hành vi “Sử dụng công cụ hỗ trợ không có giấy phép”. Cùng ngày (08/3/2023) Ủy ban nhân dân huyện BT có Công văn trả lời không ra Quyết định xử phạt vi hành chính đối với bị cáo Nguyễn Văn Tr vì “Vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm Cơ quan tố tụng hình sự đang xử lý”. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện BT đã bàn giao 01 bình xịt hơi cay cho Đội quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an huyện BT quản lý, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Đối với 01 con dao bằng kim loại dài 38 cm, mũi bằng, đã qua sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ và đúng theo quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Thanh Th và bị cáo Nguyễn Văn Tr mỗi bị cáo nộp số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự theo quy định tại Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh Th và bị cáo Nguyễn Văn Tr phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; Điều 17, 58, 65; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Tr 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng được hưởng án treo, với thời gian thử thách là 03 (ba) năm kể từ ngày 17/5/2023.
Giao bị cáo Nguyễn Văn Tr cho Ủy ban nhân dân xã Tân T, huyện BT, tỉnh V để giám sát, giáo dục. Gia đình của bị cáo Nguyễn Văn Tr có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Tân T, huyện BT, tỉnh V trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh Th 01 (một) năm tù nhưng được hưởng án treo, với thời gian thử thách là 02 (hai) năm kể từ ngày 17/5/2023.
Giao bị cáo Nguyễn Thanh Th cho Ủy ban nhân dân xã Tân B, huyện BT, tỉnh V để giám sát, giáo dục. Gia đình của bị cáo Nguyễn Thanh Th có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Tân B, huyện BT, tỉnh V trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy con dao bằng kim loại dài 38 cm, mũi bằng, đã qua sử dụng.
(Vật chứng được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện BT, tỉnh V theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 14/4/2023).
4. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình; Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Nguyễn Thanh Th nộp số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn Tr nộp số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Các bị cáo Nguyễn Văn Tr, Nguyễn Thanh Th có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại Mai Văn N, Lê Minh T vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Long (PKTNV và THA); - VKSND tỉnh Vĩnh Long; - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Long; - Công an tỉnh Vĩnh Long (Phòng hồ sơ lưu); - VKSND huyện Bình Tân; - Công an H.Bình Tân (CQTHAHS, CQĐT, NTG); - Chi cục THADS huyện Bình Tân; - UBND xã Tân Bình, huyện Bình Tân; - UBND xã Tân Thành, huyện Bình Tân; -Các bị cáo, bị hại; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Huỳnh Thanh Hùng |