- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Ph - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2023/HS-PT Ngày 17-5-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tôn Văn Thông
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Chí Đức
Ông Lê Minh Đạt
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Sương - Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông Phan Minh Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 21/2023/TLPT-HS ngày 07 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Văn Ph do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 11/2023/HS-ST ngày 02 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Th , tỉnh Bến Tre.
- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Văn Ph , sinh năm 1994 tại tỉnh Bến Tre; nơi cư trú: Số 45/2 ấp A N A, xã A T , huyện Th , tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S (đã chết) và bà Võ Thị B (đã chết); vợ: Trần Thị Thảo Ng, sinh năm 1997; con: có 01 người con sinh năm 2022; tiền án: không; tiền sự: có 01 tiền sự. Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 47/QĐ-XPHC ngày 04/11/2021 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã A T , huyện Th , tỉnh Bến Tre xử phạt số tiền 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản (chưa nộp phạt); nhân thân: Tại Bản án số 09/2014/HSST ngày 12/12/2014 của Tòa án nhân dân huyện Th , tỉnh Bến Tre xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội cướp tài sản, chấp hành xong án phạt tù ngày 10/12/2017; bị cáo tại ngoại; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn Ph bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã A T , huyện Th , tỉnh Bến Tre ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 47/QĐ-XPHC ngày 04/11/2021 về hành vi trộm cắp tài sản nhưng chưa nộp phạt. Khoảng 12 giờ ngày 14/9/2022, sau khi uống rượu bia ở xã Q , huyện Th , tỉnh Bến Tre, Nguyễn Văn Ph điều khiển xe mô tô biển số X chở Nguyễn Minh Nh di chuyển trên đường huyện 92 theo hướng từ xã Q đi xã M , huyện Th , tỉnh Bến Tre. Khi đi đến khu vực ấp T , xã M , huyện Th , tỉnh Bến Tre, N phát hiện ở bên hông chòi canh giữ tôm của anh Phan Phi H có gà trống nhốt trong các bội sắt nên nảy sinh ý định trộm cắp. Lúc này, N nói với Ph dừng xe lại để bắt trộm gà, Ph đồng ý nên dừng xe lại đợi sẵn ở bên ngoài. N đi vào bắt trộm được 02 con gà trống và ôm trở ra đưa cho Ph , sau khi nhận lấy 02 con gà Ph giấu vào bên trong áo thun đang mặc ở phía trước bụng của Ph rồi bảo N đi về, nhưng N không về mà N vừa đi trở vào phía căn chòi vừa trả lời: “Đợi đi, vô bắt thêm 01 con gà trống nữa rồi về”. Nghe N nói vậy Ph tiếp tục ngồi trên xe mô tô đợi N bên ngoài đường huyện 92, Ph đợi khoảng 05 phút thì nhìn thấy N chạy trở ra trên tay ôm 01 con gà trống và anh H đang cầm cây đuổi theo phía sau. Khi còn cách Ph khoảng 07 mét N nhặt 01 đoạn cây và chạy về phía Ph đang đậu xe. Ph kêu N bỏ đoạn cây để Ph chở về. N nghe vậy nên vứt bỏ đoạn cây rồi lên xe cho Ph chở để tẩu thoát. Anh H cầm cây chỉa trúng vào lưng của N nhưng không để lại thương tích. Ph điều khiển xe mô tô chở N chạy về nhà của Ph tại số 45/2, ấp A N A, xã A T , huyện Th , tỉnh Bến Tre để cất giấu 03 con gà trống. Sau khi bị mất trộm tài sản anh H trình báo Công an. Ngày 21/9/2022, Công an xã M , huyện Th , tỉnh Bến Tre mời Ph và N làm việc, tại cơ quan Công an Ph và N đã thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản.
Vật chứng thu giữ gồm:
- 03 (ba) con gà trống có đặc điểm như sau: 01 con có lông màu xám, chân chì, nặng 3,8kg; 02 con có lông màu đỏ, chân xanh, 01 con nặng 2,1kg và con còn lại nặng 2,3kg; trong đó có 02 con đã chết. Ngày 22/9/2022, Công an xã Mỹ An đã bàn giao 03 con gà trống cho chủ sở hữu là anh H ;
- 01 (một) xe mô tô hai bánh biển số X .
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 84/KL-HĐĐGTS ngày 24/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Th , tỉnh Bến Tre kết luận tại thời điểm ngày 14/9/2022: 01 con gà trống nòi, lông gà màu chuối đỏ, trọng lượng 2,3kg trị giá 230.000 đồng; 01 con gà trống nòi, lông gà màu chuối đỏ, trọng lượng 2,1kg trị giá 210.000 đồng; 01 con gà trống nòi, lông gà màu xám, trọng lượng 3,8kg trị giá 380.000 đồng. Tổng giá trị 03 con gà trống nêu trên là 820.000 đồng.
Tại thời điểm ngày 14/9/2022, Nguyễn Minh Nh không có tiền án, tiền sự.
Trong quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Văn Ph đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với các lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và tang vật thu giữ. Bị hại đã nhận lại toàn bộ tài sản và tiền bồi thường thiệt hại là 3.000.000 đồng, bị hại không có yêu cầu gì thêm.
* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 11/2023/HS-ST ngày 02-3-2023 của Tòa án nhân dân huyện Th , tỉnh Bến Tre đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Ph phạm “Tội trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; điểm b, h khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Ph 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án;
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về phần trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm; ngày 09-3-2023, bị cáo Nguyễn Văn Ph kháng cáo yêu cầu được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp nội dung Bản án sơ thẩm và giữ nguyên kháng cáo yêu cầu được hưởng án treo.
- Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên thể hiện như sau: Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định, về hình thức và nội dung kháng cáo phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo là đúng quy định. Về tội danh: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử và tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Ph phạm “Tội trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định. Về hình phạt và kháng cáo của bị cáo: xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Ph 06 tháng tù là phù hợp; tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội nên áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo, tuy nhiên bị cáo có tiền sự nên kháng cáo yêu cầu được hưởng án treo của bị cáo không có cơ sở chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Ph ; giữ nguyên Bản án sơ thẩm. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Ph 06 tháng tù về “Tội trộm cắp tài sản”. Các phần khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
- Bị cáo không tranh luận.
- Bị cáo nói lời sau cùng: xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong thời hạn kháng cáo phù hợp với quy định tại Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa phúc thẩm; bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án: căn cứ vào lời khai của bị cáo kết hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, có cơ sở xác định: Nguyễn Văn Ph đang có 01 tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính. Nhưng vào ngày 14/9/2022, tại ấp T , xã M , huyện Th , tỉnh Bến Tre, Nguyễn Văn Ph đã cùng với Nguyễn Minh Nh lén lút trộm cắp 03 con gà trống của ông Phan Phi H . Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 820.000 đồng.
Về tội danh: bị cáo là người thành niên, có năng lực trách nhiệm hình sự; mặc dù đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, chưa được xóa tiền sự nhưng vì động cơ tư lợi, mục đích chiếm đoạt tài sản bị cáo đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt 03 con gà trống của bị hại có tổng trị giá là 820.000 đồng; bị cáo phạm tội với lỗi cố ý; hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của bị hại, gây mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Với ý thức, hành vi, giá trị tài sản chiếm đoạt và nhân thân của bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử và tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Ph phạm “Tội trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Ph yêu cầu được hưởng án treo, thấy rằng:
Khi áp dụng hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã cân nhắc đến tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự, nhưng có nhân thân xấu. Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn theo điểm h khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại theo điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo có ông nội tên Nguyễn Văn S, có cha tên Nguyễn Văn S là người có công với đất nước được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba; là lao động chính trong gia đình, đang nuôi con còn nhỏ; được Hội liên hiệp phụ nữ xã G gửi thư cảm ơn do đã hỗ trợ mua nhu yếu phẩm tặng quà cho hộ nghèo nhân dịp tết Quý Mão, bị hại có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; đã xử phạt bị cáo 06 tháng tù;
Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: mặc dù bị cáo phạm tội có khung hình phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm, thuộc loại tội phạm ít nghiêm trọng bởi tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã được Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng theo quy định tại điểm b, h khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; tại cấp phúc thẩm bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, đã thể hiện sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo. Tuy nhiên thấy rằng; vào năm 2014 bị cáo đã từng bị kết án 04 năm 06 tháng tù về “Tội cướp tài sản”, đã được xóa án tích; bị cáo đã bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã A T , huyện Th xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, chưa được xóa tiền sự nhưng lại thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên lần này bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự, điều đó cho thấy bị cáo có nhân thân không tốt; bị cáo thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại giữa ban ngày, phạm tội với lỗi cố ý; hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện ý thức xem thường pháp luật và tài sản của người khác, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của bị hại, gây hoang mang lo sợ trong nhân dân trong việc quản lý tài sản, là người khó cải tạo. Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo 06 tháng tù là tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và hậu quả do bị cáo gây ra; tại cấp phúc thẩm bị cáo cung cấp đơn xin xác nhận nội dung có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình, con còn nhỏ mới 03 tháng tuổi để yêu cầu cho bị cáo được hưởng án treo; tuy nhiên do bị cáo đang có tiền sự nên không đủ điều kiện để được hưởng án treo theo quy định của Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số: 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Xét thấy quyết định của Bản án sơ thẩm về mức hình phạt và biện pháp chấp hành hình phạt đối với bị cáo có căn cứ và đúng pháp luật, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy không có căn cứ để thay đổi biện pháp chấp hành hình phạt cho bị cáo nên không chấp nhận kháng cáo yêu cầu được hưởng án treo của bị cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
Kiểm sát viên đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử.
Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do kháng cáo không được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự:
Căn cứ vào điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Ph ; giữ nguyên Bản án sơ thẩm số: 11/2023/HS-ST ngày 02-3-2023 của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre;
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Ph 06 (sáu) tháng tù về “Tội trộm cắp tài sản”;
Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù.
2. Về án phí: căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Bị cáo Nguyễn Văn Ph phải nộp: 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các phần quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| - Vụ GĐKT I - Tòa án nhân dân tối cao (1b); - VKSND tỉnh Bến Tre (1b); - Phòng hồ sơ Công an tỉnh Bến Tre (1b); - Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre (1b); - Tòa án nhân dân huyện Th (3b); - VKSND huyện Th (1b); - Công an huyện Th (1b); - Chi cục THADS huyện Th (1b); - UBND xã A T , huyện Th (1b); - Bị cáo (1b); - Phòng KTNV & THA, Tòa Hình sự, Văn phòng TAND tỉnh Bến Tre (5b); - Lưu hồ sơ vụ án (1b). | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tôn Văn Thông |