vanban.org

Bản án 25/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn là chị Dương Thu H.

Về hôn nhân: Cho chị Dương Thu H được ly hôn anh Lê Thanh L. Về con chung: Tiếp tục giao con chung Lê Minh A, sinh ngày 06/02/2014 cho chị Dương Thu H được trực tiếp nuôi dưỡng Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ kiện chị Dương Thị H với anh Lê Thanh L"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn là chị Dương Thu H.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BÌNH MINH
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 09/6/2023
V/v “Tranh chấp ly hôn và nuôi con
chung khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH MINH, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Sương

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Sơn Mứt

Ông Lương Phi Hùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Huyền Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Minh tham gia phiên tòa: Không tham gia phiên tòa.

Ngày 09 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 89/2023/TLST-HNGĐ ngày 27/3/2023 về “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 04 tháng 5 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 17/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 23/5/2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Dương Thu H, sinh năm 1994; Nơi cư trú: Tổ 01, ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Vĩnh Long; Có đơn xin vắng mặt, đề ngày 14/4/2023;

- Bị đơn: Anh Lê Thanh L, sinh năm 1989; Nơi cư trú: Tổ 01, ấp D, xã Đ, thị xã E, tỉnh Vĩnh Long, vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 20/3/2023 và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Dương Thu H trình bày:

Qua quá trình tìm hiểu nhau, chị Dương Thu H và anh Lê Thanh L tiến tới hôn nhân năm 2013, cả hai có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn được Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Vĩnh Long cấp giấy chứng nhận kết hôn số 55 ngày 10/6/2013. Sau khi kết hôn thì vợ chồng anh chị có thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng sau thì vợ chồng không hợp nhau về quan điểm nên thường xuyên cự cãi, xung đột dẫn đến mâu thuẫn và bất đồng quan điểm từ đó vợ chồng anh chị đã sống ly thân từ đầu năm 2020 cho đến nay. Do tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Dương Thu H yêu cầu được ly hôn với anh Lê Thanh L.

+ Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung Lê Minh A, sinh ngày 06/02/2014, hiện cháu Minh A đang sống cùng chị H. Chị H yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung Minh A, không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con;

+ Về tài sản chung, nợ chung: Chị Dương Thu H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn anh Lê Thanh L mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng gồm: Thông báo về việc thụ lý vụ án số 89/2023/TB-TLVA ngày 27/3/2023; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số: 269/2023/TB-TA ngày 28/3/2023; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số 345/2023/TB-TA ngày 14/4/2023; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 28/4/2023 nhưng anh L không cung cấp bản khai ý kiến và không đến Tòa án để trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Dương Thu H.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Nguyên đơn chị Dương Thu H có đơn xin xét xử vắng mặt đồng thời vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, cụ thể như sau: Về hôn nhân: Chị Dương Thu H yêu cầu được ly hôn với anh Lê Thanh L; Về con chung: Có 01 con chung Lê Minh A, sinh ngày 06/02/2014. Chị Dương Thu H yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung Lê Minh A, không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn anh Lê Thanh L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần hai nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn chị Dương Thu H khởi kiện xin ly hôn với anh Lê Thanh L có nơi cư trú tại ấp D, xã Đ, thị xã E, tỉnh Vĩnh Long do đó Tòa án nhân dân thị xã E, tỉnh Vĩnh Long thụ lý và giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình theo thủ tục sơ thẩm được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Ngày 23/5/2023, Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh mở phiên tòa sơ thẩm lần thứ nhất, anh Lê Thanh L đã được tống đạt hợp lệ: Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2023/QĐXXST –HNGĐ ngày 04/5/2023 và giấy triệu tập xét xử nhưng anh L vắng mặt không rõ lý do. Tại phiên tòa hôm nay, anh L đã được tống đạt hợp lệ: Quyết định hoãn phiên tòa số 17/2023/QĐST-HNGĐ ngày 23/5/2023 và giấy triệu tập xét xử nhưng anh Liêm vẫn vắng mặt không rõ lý do. Do bị đơn anh Lê Thanh L đã được Tòa án triệp tập xét xử hợp lệ hai lần mà vẫn vắng mặt không rõ lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn Lê Thanh L.

Về nội dung khởi kiện:

Sau khi tìm hiểu nhau thì chị Dương Thu H và anh Lê Thanh L sống chung từ năm 2013 cả hai có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn được Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Vĩnh Long cấp giấy chứng nhận kết hôn số 55 ngày 10/6/2013 nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Xét quá trình chung sống của chị Dương Thu H và anh Lê Thanh L: Theo lời khai của chị H, sau khi kết hôn thì vợ chồng không hợp nhau về quan điểm nên thường xuyên cự cãi, xung đột dẫn đến mâu thuẫn và bất đồng quan điểm từ đó vợ chồng anh chị đã sống ly thân từ đầu năm 2020 cho đến nay, hiện không ai còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau nên tình cảm vợ chồng không còn. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh L không đến Tòa án trình bày về tình trạng hôn nhân hiện nay và ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị H nên phải chịu hậu quả bất lợi theo khoản 4 Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do giữa chị Dương Thu H và anh Lê Thanh L đã không còn thực hiện nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình dẫn đến tình trạng hôn nhân trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của chị Dương Thu H là có căn cứ phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Dương Thu H.

Chấp nhận chị Dương Thu H được ly hôn với anh Lê Thanh L.

Về con chung: Giữa chị Dương Thu H và anh Lê Thanh L có 01 con chung Lê Minh A, sinh ngày 06/02/2014, hiện cháu Minh A đang sống cùng chị H. Chị H yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung Minh A, không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, cháu Minh A hiện đang sống với chị H nên việc chị H yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng cháu Minh A là phù hợp đảm bảo các điều kiện sinh hoạt và ăn học của cháu. Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án, anh Lê Thanh L mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh L không đến Tòa án để trình bày cũng như không có ý kiến gì đối với yêu cầu về con chung vì vậy anh L phải chịu hậu quả bất lợi theo quy định tại khoảng 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Nên việc chị Dương Thu H yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung Lê Minh A là có cơ sở chấp nhận. Do vậy, tiếp tục giao con chung Lê Minh A, sinh ngày 06/02/2014 cho chị Dương Thu H trược tiếp nuôi dưỡng.

- Xét về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con: Chị Dương Thu H không yêu cầu anh Lê Thanh L phải cấp dưỡng nuôi cháu Minh A, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Dương Thu H và anh Lê Thanh L không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Chị Dương Thu H và anh Lê Thanh L được quyền khởi kiện một vụ kiện khác khi có yêu cầu.

Về án phí: Chị Dương Thu H phải nộp án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn theo quy định khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ vào Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 1 Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn là chị Dương Thu H.

- Về hôn nhân: Cho chị Dương Thu H được ly hôn anh Lê Thanh L.

- Về con chung: Tiếp tục giao con chung Lê Minh A, sinh ngày 06/02/2014 cho chị Dương Thu H được trực tiếp nuôi dưỡng

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Dương Thu H không yêu cầu anh Lê Thanh L có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, nên không đặt ra giải quyết.

- Về tài sản chung: Chị Dương Thu H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

- Về nợ phải thu + Nợ phải trả: Chị Dương Thu H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

2. Về án phí: Chị Dương Thu H phải nộp 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu xin ly hôn. Được khấu trừ vào số tiền nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0013227 ngày 28/3/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Bình Minh. Chị Dương Thu H đã nộp xong.

3. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo : Án xử công khai, Chị Dương Thu H được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án. Riêng anh Lê Thanh L được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ