- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "T-T"
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TỈNH VĨNHLONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2023/HNGĐ-ST Ngày: 04-4-2023 “V/v Ly hôn giữa bà T và ông T” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Loan
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Huỳnh Thị Chi;
2. Ông Trần Quang Đông.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Kim Yến - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.
Ngày 04 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 470/2022/TLST - HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2022 về tranh chấp Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2023/QĐXX - ST ngày 21 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Lan T, sinh năm 1989 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
- đơn: Ông i i Thịnh, sinh năm 1983 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Nguyễn Văn T, Phường B, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG V ÁN
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 06/12/2022 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn Nguyễn Thị Lan T trình bày:
Về hôn nhân: Bà và ông Bùi Kim T quen biết nhau, tự tìm hiểu rồi tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn ngày 18/8/2013 tại Ủy ban nhân dân xã Tân Kim, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An. Bà và ông Thịnh sống hạnh phúc đến năm 2017 phát sinh mâu thuẫn về quan điểm sống, mất hòa khí gia đình, thường hay cự cải với nhau, đã ly thân nhau và mỗi người đều có cuộc sống riêng, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau với tình nghĩa vợ chồng. Bà xin ly hôn ông T biết nhưng không chịu đến Tòa để giải quyết (dượng rễ sống chung nhà nhận giấy mời-thông báo có nói lại), Bà xác định không còn tình cảm vợ chồng với ông T nên xin ly hôn chứ không nhằm mục đích gì khác (không nhằm tẩu tán tài sản hay trốn tránh nghĩa vụ trả nợ cho bất kỳ ai) cuộc sống vợ, chồng xảy ra mâu thuẫn không hàn gắn được nên Bà yêu cầu giải quyết được ly hôn ông T. Về con chung: Bà và ông T có hai người con chung là Bùi Anh Thiên D, sinh ngày 07/01/2014 và Bùi Anh Trúc D, sinh ngày 02/3/2016 hiện hai con đang sống với Bà, sau khi ly hôn Bà yêu cầu tiếp tục nuôi hai con đến tuổi trưởng thành; không yêu cầu ông T cấp dưỡng. Về tài sản chung: Bà và ông T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nợ chung: Bà T khai trong thời kỳ hôn nhân đến thời điểm xin ly hôn không có nợ chung. Tại phiên tòa, bà T đề nghị xét xử vắng mặt và giữ nguyên các yêu cầu trong đơn khởi kiện.
* Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành công khai chứng cứ và hòa giải theo đúng thủ tục tố tụng nhưng ông T vắng mặt không có lý do dù đã được Tòa án tống đạt thủ tục tố tụng hợp lệ theo quy định của pháp luật. Do đó, ông T không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; vụ án không tiến hành hòa giải được. Tại phiên tòa sơ thẩm ông T vắng mặt đến lần thứ hai.
Các đương sự không xuất trình chứng cứ gì mới tại phiên tòa.
NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, đơn xin xử vắng mặt. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị Lan T khởi kiện yêu cầu xin ly hôn, ông Bùi Kim Thịnh vắng mặt suốt quá trình giải quyết. Do đó, đây là vụ án tranh chấp ly hôn được quy định tại các điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố V.
Ông Thịnh vắng mặt tại phiên tòa đến lần hai, bà T có đơn đề nghị xử vắng mặt theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt Các đương sự.
Hiện nay, bà T và ông T sống ly thân nhau, sau khi phát sinh mâu thuẫn vợ chồng Ông, Bà không có yêu cầu Cơ quan quản lý Nhà nước về công tác gia đình tại địa phương hòa giải mâu thuẫn, tranh chấp của Ông, Bà; ý kiến, nguyện vọng của Thiên D muốn sống với mẹ. Bà T xác định rõ nguyên nhân phát sinh tranh chấp, đã ly thân không hàn gắn được tình cảm vợ chồng; ông T biết Tòa án mời để giải quyết nhưng không đến, cũng không có ý kiến gì phản đối yêu cầu xin ly hôn của bà T. Do đó, việc thu thập tài liệu, chứng cứ lấy ý kiến tại địa phương để tham khảo là không cần thiết.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về hôn nhân: Bà T xác định rõ nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn vợ chồng, Bà và ông T có thời gian sống ly thân nhau, bà T xin ly hôn do mâu thuẫn về quan điểm sống của vợ chồng trong thời gian dài hai bên không hàn gắn được, mỗi người có cuộc sống riêng, không còn quan tâm lẫn nhau, ông T biết bà T xin ly hôn nhưng không đến Tòa để hòa giải đoàn tụ gia đình, có điều kiện để hàn gắn tình cảm vợ chồng; trong suốt quá trình tố tụng ông T luôn vắng mặt nên Bà kiên quyết giữ quan điểm ly hôn vì mâu thuẫn không thể hàn gắn, đoàn tụ được; ông T không có ý kiến phản đối. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng các điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T đối với ông T.
[2.2] Về con chung: Bà T và ông T có hai người con chung là Thiên D và Trúc D, giao hai con cho bà T nuôi dưỡng đến khi các con lần lượt đủ 18 tuổi; ý kiến, nguyện vọng của Thiên D, sau khi Ông, Bà ly hôn con muốn sống với mẹ. Do đó, Hội đồng xét xử giao hai con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, vấn đề cấp dưỡng không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
[2.3] Về tài sản chung: Bà T tự thỏa thuận với ông T nên không đặt ra giải quyết; nợ chung: Bà T khai thời kỳ hôn nhân đến thời điểm ly hôn ông T không có nợ chung nên không đặt ra giải quyết.
[3] Về án phí: Căn cứ Điều 144, khoản 4 Điều 147 của Bộ Luật tố tụng dân sự; Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTV - QH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bà T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu xin ly hôn 300.000đ, ông T không phải nộp án phí sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT Đ NH
Áp dụng các điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; căn cứ Điều 144, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
V nội dung
1.1/ Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Lan T và ông Bùi Kim T.
1.2/ Về nuôi con chung: Bà T và ông T có hai người con chung là Bùi Anh Thiên D, sinh ngày 07/01/2014 và Bùi Anh Trúc D, sinh ngày 02/3/2016, giao cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các con lần lượt đủ 18 tuổi và theo nguyện vọng của Thiên D; ông T không cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn ông T có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung thì bà T có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm con.
1.3/ Về chia tài sản: Không đặt ra giải quyết; nợ chung: Không có.
V n ph : Bà Nguyễn Thị Lan T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000đ đã nộp theo biên lai thu số N0 0001746 ngày 16/12/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố V. Bà T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ sau ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được Bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các đương sự; - THADS TPVL; - VKSND TPVL; - TAND tỉnh VL; - UBND xã Tân Kim, huyện Cần Giuộc; tỉnh Long An - Lưu VT, hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ T A PHI N TÒA Nguyễn Thị Loan |