- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2023/HNGĐ-ST Ngày: Ngày: 30-3-2023 V/v: “Ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Thảo Nguyên
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lê Thị Phương Anh
2. Ông Nguyễn Văn Đô
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bạch Hoàng Hùng - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Hường - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 835/2022/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 12 năm 2022 về việc: “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số: 62/2023/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: bà Châu Thị Thanh H, sinh năm 2001
Địa chỉ: thôn Tiến Bình, xã Tiến Thành, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
- Bị đơn: ông Nguyễn Võ Bảo C, sinh năm 1993
Địa chỉ: khu phố 6, phường Phú Tài, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
Tại phiên tòa, có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 20/12/2022, bản khai, và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Châu Thị Thanh H trình bày:
- Về hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Võ Bảo C tự nguyện tìm hiểu, sống chung năm 2021 và đăng ký kết hôn vào năm 2022 tại Ủy ban nhân dân phường Phú Tài, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận. Trong quá trình chung sống với nhau, giữa vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do không cùng quan điểm sống. Vợ chồng thường xuyên cãi vã, sống không có hạnh phúc. Hiện nay bà và ông C không còn chung sống với nhau. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông Nguyễn Võ Bảo C.
- Về con chung: Bà và ông Nguyễn Võ Bảo C có 01 con chung tên Nguyễn Châu Bảo D, sinh ngày 02/11/2021, hiện nay đang sống cùng với bà. Bà yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Bà khai bà và ông C không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Bà khai bà và ông C không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ, đầy đủ các văn bản tố tụng cho bị đơn ông Nguyễn Võ Bảo C nhưng bị đơn không có văn bản trình bày ý kiến, không đến Tòa án tham gia phiên H giải, nên không thể tiến hành H giải vụ án. Do đó, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết có quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, sự tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng và ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- Về tố tụng: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình được Bộ luật Tố tụng dân sự quy định, bị đơn không chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Qua xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà C Thị Thanh H, xét xử cho bà C Thị Thanh H được ly hôn ông Nguyễn Võ Bảo C và giao con chung cho bà H nuôi dưỡng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Bà Châu Thị Thanh H yêu cầu được ly hôn ông Nguyễn Võ Bảo C và yêu cầu giải quyết về con chung, nên xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là “Ly hôn, nuôi con chung”; bị đơn có địa chỉ tại khu phố 6, phường Phú Tài, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Về sự vắng mặt của bị đơn tại phiên tòa: Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo đúng quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân, xét thấy:
Bà Châu Thị Thanh H và ông Nguyễn Võ Bảo C chung sống và có đăng ký kết hôn vào năm 2022 tại Ủy ban nhân dân phường Phú Tài, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận. Việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc, nên hôn nhân của ông, bà là hợp pháp theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Theo bà H trình bày, vợ chồng ông, bà chung sống với nhau không có hạnh phúc, nguyên nhân là do không cùng quan điểm sống, giữa vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã. Dù đã được mọi người trong gia đình khuyên bảo, nhưng vợ chồng không thể hàn gắn được với nhau. Hiện nay bà H và ông C đã sống ly thân với nhau. Tòa án đã triệu tập ông C đến Tòa nhằm H giải, động viên để vợ chồng đoàn tụ với nhau nhưng ông C không đến Tòa cũng như không có bất kỳ văn bản nào thể hiện quan điểm của mình, cho thấy ông C không còn quan tâm đến mối quan hệ hôn nhân của vợ chồng. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông C là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, việc bà C Thị Thanh H yêu cầu ly hôn ông Nguyễn Võ Bảo C là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Bà Châu Thị Thanh H khai bà và ông Nguyễn Võ Bảo C có 01 con chung tên Nguyễn Châu Bảo D, sinh ngày 02/11/2021. Hội đồng xét xử xét thấy việc giao con chung cho ai chăm sóc, nuôi dưỡng phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con, để con phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần. Cháu Nguyễn Châu Bảo D đang dưới 36 tháng tuổi, rất cần sự quan tâm, chăm sóc của người mẹ và hiện nay cháu D cũng đang do bà H trực tiếp nuôi dưỡng. Do đó, chấp nhận yêu cầu về việc nuôi con chung của bà C Thị Thanh H, bà H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do bà Châu Thị Thanh H chưa yêu cầu ông Nguyễn Võ Bảo C cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Châu Thị Thanh H chưa yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bà Châu Thị Thanh H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
\QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điều 8, Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Châu Thị Thanh H về việc “Ly hôn, nuôi con chung”.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Châu Thị Thanh H được ly hôn ông Nguyễn Võ Bảo C.
- Về con chung: Bà Châu Thị Thanh H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Châu Bảo D, sinh ngày 02/11/2021. Ông Nguyễn Võ Bảo C có nghĩa vụ giao con chung Nguyễn Châu Bảo D cho bà Châu Thị Thanh H nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Châu Thị Thanh H chưa yêu cầu ông Nguyễn Võ Bảo C cấp dưỡng nuôi con chung.
Bà H, ông C có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung.
Bà H không được ngăn cản ông C trong việc thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung.
2. Về án phí: Bà Châu Thị Thanh H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Ngày 28 tháng 12 năm 2022, bà H đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0014089 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết, nay chuyển 300.000 đồng sang án phí và sung công quỹ nhà nước.
3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (30/3/2023). Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Các đương sự;
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- VKSND thành phố Phan Thiết;
- Chi cục THADS thành phố Phan Thiết;
- Lưu hồ sơ.
Nguyễn Lê Thảo Nguyên
HỘI THẨM NHÂN DÂN
CHỦ TỌA PHIÊNTÒA Lê Thị Phương Anh Nguyễn Văn Đô
Nguyễn Lê Thảo Nguyên
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND thành phố Phan Thiết; - Chi cục THADS thành phố Phan Thiết; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Lê Thảo Nguyên |