- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Mai L.
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H TỈNH THỪA THIÊN HUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2023/HNGĐ-ST Ngày 24-3-2023 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Văn Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Bích Thủy.
2. Bà Trần Thị Thanh Xuân.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Đình Quốc Cường - Thư ký Toà án nhân dân thành phố H.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Thi - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 3 năm 2023, tại Hội trường Toà án nhân dân thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 696/2022/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 10 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/02/2023, Quyết định hoãn phiên tòa số: 48/2023/QĐST-HNGĐ ngày 17/3/2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trần Thị Mai L, sinh năm 1980; nơi đăng ký thường trú: Số 2 đường P, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Chỗ ở hiện nay: Số 10 đường Đ, phường Tg, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1979; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Số 2 đường P, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ly hôn đề ngày 12 tháng 7 năm 2022 và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn là bà Trần Thị Mai L trình bày:
Bà Trần Thị Mai L và ông Nguyễn Văn B trước khi kết hôn đã có thời gian tìm hiểu nhau. Sau đó, bà L và ông B tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 24/5/2006 tại Uỷ ban nhân dân phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống không hạnh phúc, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và cãi nhau. Nguyên nhân là do vợ chồng không hợp tính nhau, ông B không quan tâm đến cuộc sống gia đình, thường xuyên ghen tuông vô cớ và không biết chăm lo cho các con. Chỉ một vấn đề nhỏ xảy ra trong gia đình cũng khiến vợ chồng cãi nhau, nhiều lần có xảy ra xô xát. Hai bên gia đình đã nhiều lần hòa giải nhưng mâu thuẫn vẫn xảy ra. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 02 năm 2022 cho đến nay. Hiện nay cuộc sống mỗi người tự lo liệu, không ai quan tâm đến ai nữa. Nay bà L thấy tình cảm vợ chồng không còn và không thể hàn gắn được nên yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn B.
Về con chung: Bà Trần Thị Mai L và ông Nguyễn Văn B có 02 người con chung là cháu Nguyễn Trần Xuân P, sinh ngày 19/3/2007 và cháu Nguyễn Trần Anh T, sinh ngày 23/6/2013. Hiện nay cả hai cháu đang sống cùng bà L. Khi ly hôn, bà L có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 cháu P và T đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nghĩa vụ về tài sản: Bà Trần Thị Mai L trình bày vợ chồng không có tài sản chung và không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là ông Nguyễn Văn B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để tiến hành hòa giải nhưng đều vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và lập biên bản về việc không tiến hành hòa giải được để đưa vụ án ra xét xử.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến như sau:
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn cố tình vắng mặt tại phiên tòa là vi phạm các Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Mai L được ly hôn với ông Nguyễn Văn B; giao 02 người con chung là Nguyễn Trần Xuân P, sinh ngày 19/3/2007 và Nguyễn Trần Anh T, sinh ngày 23/6/2013 cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (Đủ 18 tuổi). Ông B không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nghĩa vụ về tài sản đề nghị Hội đồng xét xử không giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật tranh chấp: Bà Trần Thị Mai L có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa bà và ông Nguyễn Văn B có địa chỉ tại thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Tại phiên toà, nguyên đơn là bà Trần Thị Mai L giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, còn bị đơn là ông Nguyễn Văn B mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Mai L và ông Nguyễn Văn B trước khi kết hôn đã có thời gian tìm hiểu nhau, sau đó tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 24/5/2006 tại Uỷ ban nhân dân phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vì vậy đây là hôn nhân hợp pháp.
Tại phiên tòa, bà Trần Thị Mai L vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn B. Hội đồng xét xử thấy rằng, sau khi kết hôn, vợ chồng bà L, ông B sống hạnh phúc được một thời gian, sau đó thường xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp, không biết cảm thông, tin tưởng, chia sẻ cho nhau, thường xuyên xảy ra cãi vả nên vợ chồng đã sống ly thân, không quan tâm gì đến nhau. Bà L yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông B.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành thông báo và triệu tập hợp lệ nhiều lần để tổ chức hòa giải nhưng ông B cố tình vắng mặt không có lý do.
Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn giữa vợ chồng bà L và ông B đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà L đối với ông B.
Về con chung: Bà Trần Thị Mai L và ông Nguyễn Văn B có 02 người con chung là Nguyễn Trần Xuân P, sinh ngày 19/3/2007 và Nguyễn Trần Anh T, sinh ngày 23/6/2013. Bà L có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai cháu P và cháu T đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu ông Nguyễn Văn B phải cấp dưỡng nuôi con. Do ông B cố tình vắng mặt, không đến Tòa án làm việc nên đã không thể hiện nguyện vọng của mình về vấn đề con chung. Hội đồng xét xử thấy rằng:
Bà L có nghề nghiệp là nhân viên, thu nhập bình quân hàng tháng là 10.000.000 đồng. Hiện cả hai cháu đều đang được bà L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, đồng thời cháu P và cháu T đều trình bày nếu cha mẹ ly hôn thì các cháu có nguyện vọng được ở với mẹ.
Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của các con, đặc biệt là các điều kiện cho sự phát triển về thể chất, việc học hành và các điều kiện cho sự phát triển tốt về tinh thần, căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cần giao hai cháu Nguyễn Trần Xuân P và Nguyễn Trần Anh T cho bà Trần Thị Mai L trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành là phù hợp.
Tại phiên tòa, mặc dù đã được Tòa án giải thích về quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con là nhằm đảm bảo sự phát triển bình thường của con khi cha mẹ ly hôn, nhưng bà L cho rằng hiện nay có công việc và thu nhập ổn định nên không yêu cầu ông B phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Việc bà L không yêu cầu ông B phải cấp dưỡng nuôi con là tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật, không trái với đạo đức xã hội cần chấp nhận.
Về tài sản chung và nghĩa vụ về tài sản: Không có ai yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bà L phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 39 Bộ luật dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Mai L.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Mai L được ly hôn ông Nguyễn Văn B.
2. Về con chung: Giao hai cháu Nguyễn Trần Xuân P, sinh ngày 19/3/2007 và cháu Nguyễn Trần Anh T, sinh ngày 23/6/2013 cho bà Trần Thị Mai L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành (Đủ 18 tuổi). Ông Nguyễn Văn B không phải cấp dưỡng nuôi con. Tại thời điểm xét xử, hai cháu Nguyễn Trần Xuân P và Nguyễn Trần Anh T đang do bà L trực tiếp nuôi dưỡng.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung và nghĩa vụ về tài sản: Không có ai yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
4. Về án phí: Buộc bà Trần Thị Mai L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số AA/2021/0004563 ngày 12/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H. Bà Trần Thị Mai L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
5. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
6. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh TT. Huế; - VKSND thành phố H; - CC THADS thành phố H; - UBND P. V, TP. H (ĐKKH số: 40 ngày 24/5/2006); - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà (Đã ký) Lê Văn Hạnh |