- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "nGUYỄN THỊ G - DIỆP VŨ H"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị G.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2023/HNGĐ-ST Ngày: 15-3-2023 V/v “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Hương
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Nguyễn Văn Hiếu
Ông Phạm Đức Anh
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Châu Loan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Lý - Kiểm sát viên Ngày 15 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 571/2022/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2022 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 02 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 35/2023/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị G, sinh năm: 1969 Địa chỉ: Ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. 2. Bị đơn: Ông Diệp Vũ H, sinh năm: 1969 Địa chỉ: Ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. (Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị G trình bày: Bà và ông Diệp Vũ H tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn vào năm 1996 tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.
Cuộc sống chung của ông bà không hạnh phúc, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hòa hợp dẫn đến cãi vã. Ông bà đã sống ly thân từ tháng 3/2015 đến nay. Hiện nay, mâu thuẫn đã trầm trọng, vợ chồng sống ly thân thời gian dài, tình cảm vợ chồng đã không còn nên bà yêu cầu được ly hôn với ông H.
Về con chung: Quá trình chung sống, ông bà có 02 người con chung là Diệp Nguyễn Minh M, sinh năm 1997 và Diệp Nguyễn Nhi N, sinh năm 2002. Các con chung của ông bà đã đủ 18 tuổi, và có khả năng lao động nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Ông bà không có nợ chung.
Bà xin được vắng mặt tại phiên tòa.
- Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Diệp Vũ H đã được triệu tập hợp lệ tham gia tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên không có lời khai.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa cơ bản đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Bị đơn không chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.
Về nội dung vụ án: căn cứ các Điều 5, Điều 6 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986; Điều 131; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà G, bà G được ly hôn với ông H. Về con chung: Các con chung của ông bà đã đủ 18 tuổi và có khả năng lao động nên đề nghị không giải quyết. Về tài sản chung: và nợ chung: đề nghị không giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị G có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt, do đó tiến hành xét xử vắng mặt bà G là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông Diệp Vũ H đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt lần thứ hai, nên căn cứ khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông H là phù hợp.
Về tư cách tham gia tố tụng: Bà G có đơn khởi kiện xin ly hôn với ông H, do đó xác định bà G là nguyên đơn, ông H là bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: bà G và ông H tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn vào năm 1996 tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Hôn nhân của ông bà là hợp pháp theo quy định của pháp luật.
Xét yêu cầu của nguyên đơn nhận thấy: bà G cho rằng cuộc sống chung của ông bà không hạnh phúc, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hòa hợp dẫn đến cãi vã. Ông bà đã sống ly thân từ tháng 3/2015 đến nay. Hiện nay, mâu thuẫn đã trầm trọng, vợ chồng sống ly thân thời gian dài, tình cảm vợ chồng đã không còn nên bà yêu cầu được ly hôn với ông H.
Qua xác minh tại địa phương, đại diện địa phương không biết tình trạng hôn nhân, mẫu thuẫn của bà G và ông H như thế nào. Tuy nhiên, ông H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt, cho thấy ông H thờ ơ, không muốn hòa giải hàn gắn tình cảm vợ chồng. Từ đó nhận thấy, tình trạng hôn nhân của bà G và ông H mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà G là phù hợp với Điều 56 Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: các con chung Diệp Nguyễn Minh M, sinh năm 1997 và Diệp Nguyễn Nhi N, sinh năm 2002 đã đủ 18 tuổi và có khả năng lao động nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Bà G trình bày không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông H đã được triệu tập hợp lệ nhưng không đến làm việc nên không có lời khai do vậy không giải quyết.
Về nợ chung: Bà G trình bày anh chị không có nợ chung. Ông H được triệu tập hợp lệ nhưng không đến làm việc nên không có lời khai do vậy, không giải quyết. [7] Về án phí: Bà G phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. [8] Về ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35; Điều 39, Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 5, Điều 6 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986; Điều 56 và Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị G.
1. Chấp nhận cho bà Nguyễn Thị G được ly hôn với ông Diệp Vũ H. Quan hệ hôn nhân chấm dứt và giấy chứng nhận kết hôn số 01/96 Quyển số R00/36 ngày 10/6/1996 do Ủy ban nhân dân xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai cấp không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án, quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung: Các con chung Diệp Nguyễn Minh M, sinh năm 1997 và Diệp Nguyễn Nhi N, sinh năm 2002 đã đủ 18 tuổi và có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết
3. Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết.
4. Về nợ chung: Không xem xét giải quyết.
5. Về án phí: Bà Nguyễn Thị G phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí bà Nguyễn Thị G đã nộp theo biên lai thu số 0006840 ngày 13 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc được khấu trừ vào án phí. Bà Nguyễn Thị G đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - VKSND huyện Xuân Lộc; - Chi cục THADS huyện Xuân Lộc; - UBND cấp xã; - Các đương sự; - Lưu án văn, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Quỳnh Hương |