vanban.org

Bản án 25/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Sau khi ly hôn, giao con chung tên là Lê Đăng K – sinh ngày 19/9/2019 cho bà Đặng Thị Giáng N trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Lê Quang Đ được quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Trường hợp có đơn yêu cầu, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đặng Thị Giáng N - Lê Quang Đ "ly hôn""
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂY HÒA
TỈNH PHÚ YÊN
—————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2023/HNGĐ-ST
Ngày 21-4-2023
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Vinh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lương Tấn Nghị.

Ông Lê Văn Tuyển.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Nhật Trường – Thư ký Tòa án.

Ngày 21 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 346/2022/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2022 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Đặng Thị Giáng N, sinh năm 1999.

Nơi cư trú: Thôn Q, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.

- Bị đơn: Ông Lê Quang Đ, sinh năm 1998. Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Nơi cư trú: Khu phố M, thị trấn P, huyện T, tỉnh Phú Yên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bà Đặng Thị Giáng N và ông Lê Quang Đ tìm hiểu và tự nguyện kết hôn với nhau, đăng ký kết hôn vào năm 2019 tại UBND thị trấn P, Tây Hòa. Theo bà N trình bày: Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian đầu sau đó xảy ra nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn được. Năm 2021, bà N có nộp đơn xin ly hôn. Nguyên nhân mâu thuẫn vì ông Đ thiếu trách nhiệm với gia đình, không quan tâm chăm sóc vợ con. Bà N đã cắt đứt quan hệ vợ chồng, không còn chung sống với ông Đ từ khi sinh con năm 2019 đến nay, hiện bà N không còn tình cảm, không thể chung sống có hạnh phúc được nữa nên yêu cầu giải quyết ly hôn ông Đ. Bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung tên là Lê Đăng K – sinh ngày 19/9/2019, không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng cho con. Về tài sản chung, bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ông Lê Quang Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt. Ngày 27/3/2023, ông Đ có nộp đơn đề nghị xét xử vắng mặt, đề nghị xem xét giải quyết vụ án theo quy định pháp luật, ông Đ thừa nhận có một con chung và nhường quyền nuôi con cho vợ là bà N, ngoài ra không có yêu cầu khác.

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Bà Đặng Thị Giáng N nộp đơn khởi kiện ngày 14/12/2022, yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn ông Lê Quang Đ có nơi cư trú tại xã thị trấn P, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa tỉnh Phú Yên có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm đối với vụ án. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tòa án căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.

Về hôn nhân: Tại thời điểm đăng ký kết hôn, bà Đặng Thị Giáng N và ông Lê Quang Đ có đầy đủ điều kiện kết hôn theo quy định của luật Hôn nhân và gia đình nên đây là hôn nhân hợp pháp. Xét yêu cầu ly hôn của bà N: Bà N trình bày nguyên nhân mâu thuẫn do ông Đ thiếu trách nhiệm, không quan tâm chăm sóc gia đình; vợ chồng không còn chung sống với nhau từ năm 2019 đến nay, ông Đ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt đồng ý nhượng quyền nuôi con cho bà N. Từ những căn cứ trên cho thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà N và ông Đ đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu ly hôn của bà N là có cơ sở, Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện, bà Đặng Thị Giáng N được ly hôn ông Lê Quang Đ.

Về con chung: Bà N và ông Đ có một người con chung tên là Lê Đăng K – sinh ngày 19/9/2019, hiện đang sống cùng bà N. Xét yêu cầu được trực tiếp nuôi con của bà N là có căn cứ nên Tòa án chấp nhận, giao con chung cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn. Bà N không yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con chung.

Các đương sự không yêu cầu giải quyết về tài sản chung.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí HNGĐST theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà Đặng Thị Giáng N được ly hôn ông Lê Quang Đ.

Sau khi ly hôn, giao con chung tên là Lê Đăng K – sinh ngày 19/9/2019 cho bà Đặng Thị Giáng N trực tiếp nuôi dưỡng.

Ông Lê Quang Đ được quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Trường hợp có đơn yêu cầu, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng cho con.

Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Bà Đặng Thị Giáng N phải chịu 300.000 đồng án phí HNGĐ sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0005933 ngày 16/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.

Nguyên đơn được kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn được kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ