- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị H - Nguyễn VĂn H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H. Cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn Hp.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S TP. H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2023/HNGĐ - ST Ngày: 28/4/2023. V/v tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S – THÀNH PHỐ H
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị H Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị H
Bà Đỗ Thị H
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải H –Thư ký Tòa án nhân dân huyện S.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện S tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Minh T - Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện S – TP H xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số: 715/2023/TLST- HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm 2023 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2023/QĐXX-ST ngày 03 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1991. Địa chỉ: Thôn HĐ, xã MĐ, huyện S, TP H.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Hp, sinh năm 1984. Địa chỉ: Thôn HĐ, xã MĐ, huyện S, TP. H.
Có mặt chị H, vắng mặt anh Hp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 08.8.2022 và trong quá trình xét xử, chị Nguyễn Thị H trình bày:
-Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn Hp có tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương, vợ chồng kết hôn có tự do tìm hiểu, tự nguyện, có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã MĐ, huyện S, thành phố H ngày 20/12/2010. Sau khi kết hôn xong vợ chồng chị về sống chung cùng bố mẹ anh Hp tại thôn HĐ, xã MĐ, huyện S, TP H.
Quá trình chung sống vợ chồng sống hạnh phúc được 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do chị bận nhiều việc, thường xuyên phải đi giao hàng, còn anh Hp thì thường xuyên đi uống rượu về nhà muộn không giúp đỡ được chị việc gì. Mặt khác anh Hp đi làm không bao giờ đưa tiền lương cho chị, chị có nói nhưng anh Hp không thay đổi. Sau khi vợ chồng xảy ra mâu thuẫn có được gia đình hai bên hòa giải nhưng không thành. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2021 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn anh Hp.
-Về con chung: Vợ chồng chị có 02 con chung là Nguyễn Thảo N, sinh ngày 05/02/2012 và Nguyễn Phương T, sinh ngày 22/9/2013. Hiện nay cháu N ở với anh Hp, cháu T ở cùng với chị. Ly hôn chị đề nghị để cháu N ở với anh Hp, cháu T ở với chị, không đề nghị Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.
-Về tài sản chung, công sức đóng góp, nợ chung, đất sản xuất nông ngHp: Vợ chồng chị tự thỏa thuận giải quyết, chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
* Bị đơn là anh Nguyễn Văn Hp đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh không đến Tòa án làm việc nên Tòa án không ghi được ý kiến của anh.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán; Thư ký Tòa án; Hội đồng xét xử và nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự
- Về ý kiến giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 56, 58, 59, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình; Điều 28, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H. Cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn Hp.
Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Thảo N, sinh ngày 05/02/2012 cho anh Nguyễn Văn Hp trực tiếp nuôi dưỡng. Giao con chung là Nguyễn Phương T, sinh ngày 22/9/2013 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng. Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
Về tài sản chung, công sức đóng góp, nợ chung, nhà, đất ở, đất sản xuất nông ngHp: Ghi nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Chị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Tòa án nhân dân huyện S nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị H xin ly hôn anh Nguyễn Văn Hp, hiện anh Hp cư trú tại thôn HĐ, xã MĐ, huyện S, thành phố H nên căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự Tòa án nhân dân huyện S thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Tại phiên tòa ngày 22/3/2023 anh Hp vắng mặt, Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa và tiến hành triệu tập hợp lệ đối với anh Hp, nhưng tại phiên tòa ngày hôm nay anh Hp vẫn vắng mặt không có lý do nên căn cứ theo Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Hp.
Về nội dung: Chị Nguyễn Thị H kết hôn cùng anh Nguyễn Văn Hp trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã MĐ, huyện S, TP H theo Giấy chứng nhận kết hôn số 245, quyển số 01/2010 ngày 20/12/2010. Đây là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình chung sống chị H cho rằng vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Hp thường xuyên đi uống rượu về muộn không quan tâm, lo lắng cho gia đình, vợ con. Chị đã nhiều lần góp ý nhưng anh không thay đổi. Anh Nguyễn Văn Hp đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa án làm việc nên Tòa án không ghi được ý kiến của anh. Qua xác minh tại gia đình hai bên và chính quyền địa phương được biết vợ chồng anh chị sống thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Sau khi anh chị xảy ra mâu thuẫn đã được gia đình hai bên hòa giải nhưng không thành. Chị H đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở từ tháng 02/2022 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Xét thấy để tồn tại quan hệ hôn nhân thì vợ chồng phải thương yêu, tôn trọng lẫn nhau để cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình. Tuy nhiên vợ chồng anh chị sống không có còn quan tâm, chăm sóc đến nhau nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Như vậy mục đích hôn nhân của anh chị không đạt được, mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài nên cho chị H được ly hôn anh Hp là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Thảo N, sinh ngày 05/02/2012 và Nguyễn Phương T, sinh ngày 22/9/2013. Ly hôn chị H có đề nghị xin được nuôi cháu T, anh Hp nuôi cháu N. Cháu N có nguyện vọng muốn ở với anh Hp, cháu T có nguyện vọng muốn ở với chị H. Xét yêu cầu của chị H cũng như nguyện vọng của cháu N và cháu T Hội đồng xét xử nhận thấy hiện tại chị H và anh Hp đều có chỗ ở và công việc ổn định. Hiện cháu N đang ở với anh Hp, cháu T hiện đang ở với chị H nên để không xáo trộn cuộc sống của các con sau khi ly hôn và phù hợp với nguyện vọng của các con thấy cần tiếp tục giao cháu N cho anh Hp trực tiếp nuôi dưỡng và giao cháu T cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
Về tài sản chung, công sức đóng góp, nợ chung, đất ở, nhà, đất sản xuất nông ngHp: Chị H không đề nghị nên không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Chị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 228; Điều 235 Điều 266; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.
Căn cứ Điều 51; Điều 56; Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 88 Luật hôn nhân gia đình;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H. Cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn Hp.
2. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Thảo N, sinh ngày 05/02/2012 cho anh Nguyễn Văn Hp trực tiếp nuôi dưỡng. Giao con chung là Nguyễn Phương T, sinh ngày 22/9/2013 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
Anh Hp, chị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung, công sức đóng góp, nợ chung, đất sản xuất nông ngHp: Tòa án không đặt ra giải quyết.
4. Về án phí: Chị H phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, chị được trừ vào số tiền 300.000đ chị đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0005486 ngày 31/10/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện S.
5. Về quyền kháng cáo: Chị H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Hp có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
N¬i nhËn
| - VKSND H. S; - THADS H. S; - Toµ ¸n H; - UBND xã MĐ (Giấy chứng nhận kết hôn số 245 ngày 20/12/2010); - C¸c ®ư¬ng sù; - Lưu HS, VP. | Tm. Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm ThÈm ph¸n- Chñ täa phiªn tßa Ngô Thị H |