vanban.org

Bản án 25/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Huỳnh G.

Chị Trần Huỳnh G được ly hôn với anh Nguyễn Minh Đ. Về con chung: Giao Nguyễn Huỳnh H, sinh ngày 30/6/2011 và Nguyễn Trần Đại P, sinh ngày 12/11/2015 cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng, anh Đ không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên không xét Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn, nuôi con giữa Chị Trần Huỳnh G và Anh Nguyễn Minh Đ"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Huỳnh G.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MANG THÍT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH VĨNH LONG
Bản án số: 25/2023/HNGĐ-ST.
Ngày: 28– 4– 2023 .
V/v “ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Công Hảo

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Phẩm

2. Ông Nguyễn Đinh Cường

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Mai Phụng, Thư ký Tòa án Nhân dân huyện Mang Thít.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít : Không tham gia phiên tòa.

Ngày 28 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long. Xét xử công khai sơ thẩm vụ án thụ lý số: 370/2022/TLST-HNGĐ, ngày 20 tháng 12 năm 2022; Về việc: “ Xin ly hôn, nuôi con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 17 tháng 02 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Huỳnh G, sinh năm 1992 (có đơn xin vắng).

Địa chỉ: ấp C, xã Y, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Minh Đ, sinh năm 1984 (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp C, xã Y, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 20 tháng 12 năm 2022 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trần Huỳnh G trình bày:

Chị Trần Huỳnh G và anh Nguyễn Minh Đ là vợ, chồng hợp pháp được hai bên gia đình đồng ý tổ chức lễ cưới năm 2010, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Y, huyện M, tỉnh Vĩnh Long. Vợ, chồng chung sống có 02 con chung là Nguyễn Huỳnh H, sinh ngày 30/6/2011 và Nguyễn Trần Đại P, sinh ngày 12/11/2015 hiện đang sống với anh Đ, thời gian đầu mới cưới sống chung rất hạnh phúc, nhưng càng về sau mâu thuẫn càng nhiều nên vợ, chồng đã ly thân từ đầu năm 2022, nguyên nhân do anh Đ không lo làm ăn, không quan tâm vợ, con. Chị G đã 03 lần bỏ nhà đi và hiện nay không thể hàn gắn vì mâu thuẫn quá trầm trọng. Nay cảm thấy tình cảm không còn nên khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về quan hệ hôn nhân: yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Minh Đ.

Về con chung: Giao 02 con chung Nguyễn Huỳnh H và Nguyễn Trần Đại P cho anh Đ nuôi dưỡng, chị G không cấp dưỡng nuôi 02 con chung .

Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ phải thu, phải trả: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tài liệu, chứng cứ chị G đã nộp cho Tòa án, không cung cấp gì thêm.

Tại biên bản hòa giải ngày ngày 17 tháng 02 năm 2023 và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án bị đơn anh Nguyễn Minh Đ trình bày:

Năm 2010 chị G, anh Đ kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Mỹ An, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long. Vợ, chồng có 02 con chung là Nguyễn Huỳnh H, sinh ngày 30/6/2011 và Nguyễn Trần Đại P, sinh ngày 12/11/2015 hiện đang sống với anh Đ. Vợ, chồng mâu thuẫn nhiều năm, bất đồng quan điểm sống, chị G đã ba lần bỏ nhà đi. Đối với việc khởi kiện của chị G, anh Đ có ý kiến như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Minh Đ còn thương vợ, thương con nên không đồng ý ly hôn.

Trường hợp Tòa án giải quyết ly hôn.

Về con chung: Theo nguyện vọng của hai con chung sống chung với anh Đ nên anh Đ nuôi dưỡng, không yêu cầu chị G cấp dưỡng nuôi con chung.

Tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Con chung Nguyễn Trần Đại P, Nguyễn Huỳnh H có nguyện vọng sống chung với cha Nguyễn Minh Đ.

Tại phiên tòa hôm nay anh Nguyễn Minh Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không tham gia, không cung cấp tài liệu, chứng cứ thể hiện yêu cầu hoặc phản bác đối với yêu cầu của chị G.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[ 1 ] Về tố tụng: Quan hệ pháp luật nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết là “ Ly hôn, nuôi con chung” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự; Do bị đơn có địa chỉ nơi cư trú tại huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long nên Tòa án nhân dân huyện Mang Thít thụ lý giải quyết là đúng theo qui định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chị Trần Huỳnh G có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Minh Đ được triệu tập hợp lệ trên hai lần nhưng vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử giải quyết vắng mặt là phù hợp Điều 227, 228 của BLTTDS.

[ 2] Về nội dung:

[ 2.1] Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2010 anh Đ, chị G có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán có đăng ký kết hôn nên quan hệ hôn nhân giữa anh Đ, chị G là hợp pháp. Chị Huỳnh Giao trình bày do mâu thuẫn vợ, chồng nên đã ly thân từ năm 2022 đến nay không đoàn tựu lại, trước đó chị G đã từng bỏ nhà đi ba lần là có thật vì anh Đ cũng thừa nhận, Hội đồng xét xử cho chị G được ly hôn là phù hợp theo quy định tại Điều 53, 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Xét theo nguyện vọng của hai con chung sống với anh Đ, nên Hội đồng xét xử giao Nguyễn Huỳnh H, sinh ngày 30/6/2011 và Nguyễn Trần Đại P, sinh ngày 12/11/2015 cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng, anh Đ không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên không xét là phù hợp các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra, không yêu cầu giải quyết nên không xét.

Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn nộp án phí theo quy định tại Điều 24 và Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 53, 56 và các Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147, 227, 228 235 và Điều 266 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 24 và Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Huỳnh G.

1. Chị Trần Huỳnh G được ly hôn với anh Nguyễn Minh Đ.

2. Về con chung: Giao Nguyễn Huỳnh H, sinh ngày 30/6/2011 và Nguyễn Trần Đại P, sinh ngày 12/11/2015 cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng, anh Đ không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên không xét

Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền tới lui, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai có quyền ngăn cản.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra giải yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.

4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Nguyên đơn chị Trần Huỳnh G nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí hôn nhân sơ thẩm, số tiền này được khấu trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Mang Thít theo lai thu số N00007527, ngày 20/12/2022.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 , Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2014.

Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt nguyên đơn, bị đơn báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ