- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Võ Thị T yêu cầu ly hôn ông Phạm Hồng T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Võ Thị T, cho ly hôn giữa bà Võ Thị T và ông Phạm Hồng T1.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC TRỌNG TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2023/HNGĐ-ST Ngày: 27-3-2023 V/v tranh chấp: Ly hôn |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC TRỌNG, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Hạnh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Cao Đình Nhân
2. Ông Lê Văn Hoàng
- Thư ký phiên tòa: Bà Lƣờng Thị Phƣơng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phƣơng– Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 453/2022/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2022 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2023/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Võ Thị T, sinh năm 1976. Trú tại: Số 05 N, Tổ A, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng
2. Bị đơn: Ông Phạm Hồng T1, sinh năm 1970. Trú tại: Số 05 N, Tổ A, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng
Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 24/9/2022, bản tự khai và lời khai tại phiên tòa, nguyên đơn bà Võ Thị T trình bày: Bà và ông Phạm Hồng T1 kết hôn vào năm 2001, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng vào ngày 26/6/2001. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, có tổ chức lễ cưới, có thời gian tìm hiều trong 01 năm. Quá trình vợ chồng chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn và mâu thuẫn trầm trọng từ năm 2019. Nguyên nhân do ông Phạm Hồng T1 suốt ngày cờ bạc, không lo làm ăn, không có sự quan tâm và trách nhiệm với gia đình; ông T1 vay nợ đánh bài làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống gia đình và bà nhiều lần phải trả nợ thay cho ông T1. Gia đình nhiều lần khuyên nhủ nhưng ông T1 không có sự thay đổi. Hiện nay, bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng không có khả năng hòa giải đoàn tụ và tiếp tục chung sống nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông Phạm Hồng T1.
Về con chung: Ông bà có 02 con chung tên Phạm Vũ Hồng H, sinh ngày 12/4/2002 và Phạm Hồng P, sinh ngày 05/10/2005. Khi ly hôn bà yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung Phạm Hồng P và không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng; đối với con chung Phạm Vũ Hồng H đã thành niên nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
Bị đơn ông Phạm Hồng T1 được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án làm việc và không giao nộp cho Tòa án các tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ án.
Tòa án tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông Phạm Hồng T1 vắng mặt không có lý do, vì vậy Tòa án tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ vắng mặt và thông báo kết quả phiên họp cho ông T1 được biết. Do ông Phạm Hồng T1 vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện;
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng:
Việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện theo quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự như xác định đúng thẩm quyền thụ lý vụ án, xác định tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng, xác định mối quan hệ tranh chấp, thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, tống đạt các văn bản tố tụng cho Viện kiểm sát và các đương sự đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ, bị đơn vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa là chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Võ Thị T, cho bà Võ Thị T được ly hôn ông Phạm Hồng T1. Về con chung: giao bà Võ Thị T trực tiếp nuôi dưỡng con chung Phạm Hồng P, sinh ngày 05/10/2005 cho đến ngày thành niên; ông Phạm Hồng T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung, nợ chung ông bà không yêu cầu giải quyết nên không đề cập.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Xác định đây là vụ án “Ly hôn” giữa nguyên đơn bà Võ Thị T và bị đơn ông Phạm Hồng T1 theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng.
Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Phạm Hồng T1 được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa án, không thuộc trường hợp bất khả kháng. Căn cứ Điều 227; 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt ông Phạm Hồng T1.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị T và ông Phạm Hồng T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, có tổ chức lễ cưới theo phong tục. Quá trình vợ chồng chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn và mâu thuẫn trầm trọng từ năm 2019. Nguyên nhân mâu thuẫn theo nguyên đơn trình bày do không có sự quan tâm và trách nhiệm với gia đình; ông T1 chơi bài và vay nợ đánh bài làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống gia đình, cuộc sống chung không hòa hợp, không còn sự tôn trọng, tin tưởng. Bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án làm việc và không trình bày ý kiến thể hiện bị đơn không có thiện chí hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Hội đồng xét xử x t thấy vợ chồng không còn sự quan tâm và trách nhiệm đối với nhau, ông bà không có thiện chí hòa giải; xác định hôn nhân giữa ông bà mâu thuẫn trầm trọng, mục đ ch hôn nhân không đạt được, không có khả năng hòa giải đoàn tụ nên cần chấp nhận yêu cầu của bà Võ Thị T được ly hôn ông Phạm Hồng T1 là phù hợp và đúng pháp luật.
Về con chung: Trong quá trình chung sống, ông bà có 02 con chung tên Phạm Vũ Hồng H, sinh năm 2002 và Phạm Hồng P, sinh ngày 05/10/2005 nên ông bà đều có trách nhiệm nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thấy để đảm bảo cho việc ổn định cuộc sống, phát triển bình thường và phù hợp với nguyện vọng của con chung được sống với mẹ cần giao bà Võ Thị T trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phạm Hồng P, sinh ngày 05/10/2005 cho đến ngày thành niên là phù hợp, đúng quy định pháp luật. Đối với con chung Phạm Vũ Hồng H đã thành niên, ông bà không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Bà Võ Thị T không yêu cầu ông Phạm Hồng T1 cấp dưỡng nuôi con chung Phạm Hồng P nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông bà không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Bà Võ Thị T phải chịu án ph hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 56, 71, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, 220, 227, 228, 264, 266, 267 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Võ Thị T, cho ly hôn giữa bà Võ Thị T và ông Phạm Hồng T1.
2. Về con chung: Giao bà Võ Thị T trực tiếp nuôi dưỡng con chung Phạm Hồng P, sinh ngày 05/10/2005 cho đến ngày thành niên.
Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; quyền yêu cầu cấp dưỡng được thực hiện theo quy định Luật Hôn nhân và Gia đình.
3. Về án phí: Buộc bà Võ Thị T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án ph hôn nhân gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án ph đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008239 ngày 20/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Trọng. Bà Võ Thị T đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014.
Bà Võ Thị T có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử vụ án theo thủ tục phúc thẩm, riêng ông Phạm Hồng T1 vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND huyện Đức Trọng; - Chi cục THA DS huyện Đức Trọng; - UBND thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; - Lưu HS, AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thị Hạnh |