- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị S - Nguyễn Văn C - LH"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị S được ly hôn ông Nguyễn Văn C.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH LONG AN Bản án số: 25/2023/HNGĐ-ST Ngày: 29-5-2023 Về việc “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Vương.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Văn Chài;
2. Bà Nguyễn Thị Nhiều.
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Bé Đào - Thư ký Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Long An.
Ngày 29 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 36/2023/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị S - Sinh năm 1968 - Địa chỉ: Ấp AH, xã BHB, huyện H, tỉnh Long An (Vắng mặt).
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn C - Sinh năm 1961 - Địa chỉ: Ấp AH, xã BHB, huyện H, tỉnh Long An (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện đề ngày 14-02-2023, các văn bản tiếp theo, nguyên đơn bà Nguyễn Thị S trình bày và yêu cầu:
Bà và ông Nguyễn Văn C cưới nhau năm 1987, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã BHB ngày 27-12-2000; Chung sống hạnh phúc được 20 năm phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau, vợ chồng còn sống chung nhà nhưng mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống hàng ngày quá ngột ngạt.
Về hôn nhân: Yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn C; Về nuôi con chung: Hai con chung tên Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 15-01-1988 và Nguyễn Văn B, sinh ngày 25-5-1989, đều đã thành niên, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về chia tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Vụ án không hòa giải đoàn tụ được do bị đơn là ông Nguyễn Văn C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt;
- Ngày 26-4-2023, bà Nguyễn Thị S có đơn xin giải quyết và xét xử vắng mặt;
- Bị đơn là ông Nguyễn Văn C vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do, nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Bà Nguyễn Thị S khởi kiện “Tranh chấp ly hôn” đối với ông Nguyễn Văn C; Tòa án nhân dân huyện H tỉnh Long An thụ lý giải quyết vụ án là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự. [2] Bà S có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; [3] Bị đơn là ông C được tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng của Tòa án, nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Hội đồng xét xử vụ án theo quy định tại khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. [4] Tại phiên tòa, nguyên đơn không có đơn rút yêu cầu khởi kiện, các đương sự không thỏa thuận được với nhau việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án. [5] Xét về hôn nhân: [5.1] Bà S và ông C chung sống có đăng ký kết hôn ngày 27-12-2000 tại Ủy ban nhân dân xã BHB, huyện H, tỉnh Long An. Quan hệ hôn nhân giữa bà S và ông C là hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình. [5.2] Xét yêu cầu ly hôn của bà S: Bà S cho rằng xảy ra mâu thuẫn khoảng 10 năm do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau, vợ chồng còn sống chung nhà nhưng mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống hàng ngày quá ngột ngạt nên yêu cầu ly hôn. Xét từ khi xảy ra mâu thuẫn đến nay, bà S và ông C không khắc phục được mâu thuẫn gia đình, bà S và ông C tuy còn sống chung nhà nhưng thấy mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên bà S khởi kiện ly hôn; ông C biết được việc bà S khởi kiện ly hôn nhưng vẫn không có ý kiến, không có mặt tham gia hòa giải đoàn tụ và vắng mặt tại phiên tòa, ông C không có ý chí đoàn tụ. Xét mâu thuẫn giữa bà S và ông C đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc bà S yêu cầu ly hôn là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên chấp nhận. Ông C không có ý kiến nên không có căn cứ xem xét.
Xét về nuôi con chung: Hai con chung tên Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 15-01-1988 và Nguyễn Văn B, sinh ngày 25-5-1989, đều đã thành niên, bà S không yêu cầu Tòa án giải quyết là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình nên chấp nhận. Ông C không có ý kiến nên không có căn cứ xem xét.
Về chia tài sản chung và chia nợ chung: Bà S trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đề cập. Ông C không có ý kiến nên không có căn cứ xem xét. Nếu xảy ra tranh chấp, các đương sự được quyền khởi kiện bằng vụ án khác theo pháp luật tố tụng dân sự là phù hợp quy định tại Điều 59 và Điều 60 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về án phí, căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xét thấy: Bà S là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp, bà S đã nộp đủ án phí; Ông C không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 147 và Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Các Điều 56, 59, 60, 81, 82, 83, 84, 107 và 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị S được ly hôn ông Nguyễn Văn C.
2. Về nuôi con chung: Hai con chung tên Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 15-01-1988 và Nguyễn Văn B, sinh ngày 25-5-1989, đều đã thành niên, không yêu cầu giải quyết.
3. Về chia tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị S phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu số 0001244 ngày 06-3-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, Bà S đã nộp đủ án phí. 5. Các đương sự vắng mặt, được quyền kháng cáo bản án theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Long An; - VKSND huyện H; - Chi cục THADS huyện H; - UBND xã BHB (để ghi sổ hộ tịch); - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ, án văn. | Nguyễn Hùng Vương |