vanban.org

Bản án 25/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kim K.

[1] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim K được ly hôn với anh Lê Văn V. [2] Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Kim K được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Lê Nguyễn Thiên Phước, sinh ngày 14/3/2013 và anh Lê Văn V không phải cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị Kim K xin ly hôn với anh Lê Văn V"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kim K.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÁI NƯỚC
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2023/HNGĐ-ST
Ngày 21 – 02 – 2023
V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Hoàng Chiến.

Ông Nguyễn Quốc Trung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thu Khiếm – Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

Ngày 21 tháng 02 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Cái Nước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 654/2022/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2022 về tranh chấp ly hôn và nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 01 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim K, sinh năm 1986 (vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh T ..

- Bị đơn: Anh Lê Văn V, sinh năm 1982 (vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp G, xã T, huyện C, tỉnh C ..

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 24/11/2022 và các lời khai tại Tòa án chị Nguyễn Thị Kim K (nguyên đơn) trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Lê Văn V chung sống với nhau vào năm 2011, hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Thuận Bình, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2014 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do từ khi sinh cháu Phước bị bệnh Down thì vợ chồng bất đồng quan điểm, cự cãi, anh V không còn quan tâm, lo lắng gia đình và đã sống ly thân từ năm 2015 cho đến nay. Do cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, nay chị yêu cầu ly hôn với anh Lê Văn V.

Về con chung: Chị xác định có 01 con chung tên Lê Nguyễn Thiên Phước, sinh ngày 14/3/2013. Hiện tại, cháu Phước bị bệnh Down, đang sống cùng với chị. Sau khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung; nợ thu, nợ trả: Chị xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với anh Lê Văn V, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý về yêu cầu của chị K nhưng anh V không có ý kiến. Tòa án thông báo để anh V tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đến lần thứ hai nhưng anh V vắng mặt nên Tòa án không thể tiến hành hòa giải giữa anh, chị được.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh Lê Văn V tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng anh V vắng mặt không lý do; nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim K có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh V, chị K theo quy định tại khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ Luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền:

Tranh chấp giữa chị Nguyễn Thị Kim K với anh Lê Văn V là tranh chấp hôn nhân và gia đình về tranh chấp ly hôn và nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn anh Lê Văn V có địa chỉ cư trú tại ấp Giải Phóng, xã Tân Hưng Đông, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Cái Nước thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim K và anh Lê Văn V chung sống với nhau vào năm 2011, hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Thuận Bình, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang theo giấy chứng nhận kết hôn 79 ngày 25/7/2011 nên đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Chị K yêu cầu được ly hôn với anh V, với nguyên nhân là do từ khi sinh cháu Phước bị bệnh Down thì vợ chồng bất đồng quan điểm, cự cãi, anh V không còn quan tâm, lo lắng gia đình và đã sống ly thân từ năm 2015 cho đến nay. Đối với yêu cầu này Hội đồng xét xử thấy rằng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử anh V không có ý kiến bằng văn bản hay trực tiếp tranh tụng tại phiên tòa để thể hiện quan điểm đối với yêu cầu của chị K, cũng như tự bảo vệ quyền lợi hợp pháp chính đáng cho anh. Nhận thấy, mâu thuẫn giữa chị K và anh V đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo yêu cầu của chị K, cho chị K được ly hôn với anh V là có căn cứ pháp luật được quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị K xác định có 01 con chung tên Lê Nguyễn Thiên Phước, sinh ngày 14/3/2013. Hiện tại, cháu Phước bị bệnh Down, đang sống cùng với chị K. Sau khi ly hôn chị K yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, từ khi sinh ra cháu Phước đã bị bệnh, chị K nuôi dưỡng con cũng đã ổn định, do cháu Phước bị bệnh nên không xem xét nguyện vọng của cháu và anh V cũng không có ý kiến yêu cầu được nuôi con nên yêu cầu nuôi con của chị K là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị K giao cháu Lê Nguyễn Thiên Phước cho chị K trực tiếp nuôi dưỡng. Chị K không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung; nợ thu, nợ trả: Chị K xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị K phải chịu theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 9, 51, 53, 56, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kim K.

[1] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim K được ly hôn với anh Lê Văn V.

[2] Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Kim K được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Lê Nguyễn Thiên Phước, sinh ngày 14/3/2013 và anh Lê Văn V không phải cấp dưỡng nuôi con.

Anh Lê Văn V không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

[3] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Kim K phải chịu 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0008623 ngày 05/12/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước; chị K đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai, chị Nguyễn Thị Kim K và anh Lê Văn V có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ