vanban.org

Bản án 25/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn chị Đào Thị Khánh- Bị đơn anh Hoàng Văn Nghĩa"
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN L
TỈNH Y

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

________________
Bản án số:25/2023/HNGĐ-ST
Ngày 05-4-2023
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L- TỈNH Y

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Duy Đô

Các Hội thẩm nhân dân:

1- Ông Hoàng Văn Khiếu;

2- Bà Lê Thị Hương.

Thư ký phiên toà: Bà Lương Thuỳ Linh, Thư ký Toà án nhân dân huyện L-tỉnh Y.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L- tỉnh Y tham gia phiên toà: Bà Diêm Thị Thanh Tuyền- Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện L- tỉnh Y, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 33/2023/TLST- HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2023 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2023/QĐXX-ST ngày 23 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Đào Thị Kh 35 tuổi

Địa chỉ: Thôn T- xã G- huyện B- tỉnh L;

Bị đơn: Anh Hoàng Văn Ng 37 tuổi

Địa chỉ: Thôn N- xã LĐ- huyện L- tỉnh Y.

Các đương sự có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 17-02-2023 và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn là chị Đào Thị Kh trình bày: Chị và anh Hoàng Văn Ng kết hôn tháng 5 năm 2008 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn lại tại UBND xã G- huyện B- tỉnh L. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2018 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh Ng nghiện chất ma tuý, mặc dù đã được đi cai nghiện nhưng khi trở về địa phương anh Ng vẫn không thay đổi… Vợ chồng sống ly thân từ năm 2018 không còn quan tâm đến nhau nữa. Xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị giải quyết cho ly hôn. Thời gian chung sống vợ chồng có một con chung là Hoàng Sơn T sinh ngày 31-01-2016 hiện đang ở với mẹ; ly hôn chị sẽ nuôi cháu T, không yêu cầu anh Ng phải cấp dưỡng nuôi con.

Trong các lời khai bị đơn là anh Hoàng Văn Ng trình bày: Anh và chị Đào Thị Kh kết hôn năm 2016, đến năm 2020 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do quan điểm, tính cách không hợp nhau dẫn đến thỉnh thoảng xảy ra cãi nhau. Xác định tình cảm vợ chồng không còn anh đồng ý ly hôn. Về con chung, khi ly hôn anh nhất trí để chị Kh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Hoàng Sơn T. Về tài sản chung, nợ chung anh cũng không yêu cầu giải quyết.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L- tỉnh Y phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng thủ tục tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội; chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên xử cho chị Kh được ly hôn với anh Ng, giao con cho chị Kh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; chị Kh phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tranh chấp giữa chị Đào Thị Kh và anh Hoàng Văn Ng là tranh chấp về hôn nhân và gia đình; bị đơn có địa chỉ thường trú tại xã LĐ-huyện L- tỉnh Y nên Tòa án nhân dân huyện L thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Các đương sự có đơn đề nghị vắng mặt nên Toà án tiến hành xét xử vắng mặt cả nguyên đơn và bị đơn là đúng quy định tại khoản 1 điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đào Thị Kh và anh Hoàng Văn Ng kết hôn năm 2016, việc kết hôn này tuân thủ đúng những quy định của Luật Hôn nhân và gia đình do đó đây là hôn nhân hợp pháp.

Tại điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Theo lời khai của các đương sự cho thấy do nhiều nguyên nhân nên trong thời gian qua vợ chồng chị Kh- anh Ng không hạnh phúc, trong đó nguyên nhân chính là do quan điểm, tính cách, lối sống không hợp nhau; hai người đã có thời gian dài sống ly thân không còn quan tâm đến nhau nữa. Qúa trình giải quyết, chị Kh không thể tham gia hoà giải được vì có lý do chính đáng; bản thân anh Hoàng Văn Ng cũng thừa nhận vợ chồng sống không hạnh phúc và nhất trí ly hôn. Qua đó cho thấy hôn nhân giữa chị Kh- anh Ng đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, do đó yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Kh có căn cứ chấp nhận.

[3] Về con chung: Chị Đào Thị Kh và anh Hoàng Văn Ng có một cháu là Hoàng Sơn T sinh ngày 31-01-2016. Khi ly hôn chị Kh nhận trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Trong biên bản lấy lời khai cháu T có nguyện vọng ở với mẹ. Qúa trình giải quyết vụ án, anh Hoàng Văn Ng đồng ý để chị Kh trực tiếp nuôi con chung. Xét thấy quan điểm này là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với nguyện vọng của cháu T, phù hợp hoàn cảnh thực tế cần ghi nhận. Do chị Kh không yêu cầu nên anh Ng không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền thăm nom con chung.

[4] Về tài sản chung; nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết.

[5] Về án phí: Chị Kh phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

[6] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L- tỉnh Y về việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

1- Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ khoản 1 điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 điều 228; điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị Đào Thị Kh được ly hôn với anh Hoàng Văn Ng.

2- Về con chung: Căn cứ các điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; giao cháu Hoàng Sơn T sinh ngày 31-01-2016 cho chị Đào Thị Kh trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; anh Hoàng Văn Ng không phải cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3- Về án phí: Căn cứ khoản 4 điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; chị Đào Thị Kh phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn. Xác nhận chị Kh đã nộp đủ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện L- tỉnh Y theo biên lai số AA/2021/0003449 ngày 17-02-2023.

4- Quyền kháng cáo: Căn cứ điều 271, điều 273, Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án.

5- Quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ