vanban.org

Bản án 25/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài

TAND tỉnh Nam Định Tuyên án 11/05/2023 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Hoàng Thị L và anh Hoàng Ngọc H.

Về nuôi con chung: Giao con chung cháu Hoàng Công Chính, sinh ngày 31-5-2017 cho anh Hoàng Ngọc H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành và có khả năng lao động tự lập được hoặc có tài sản để tự nuôi mình. Chị Hoàng Thị L phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Hu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "Hoàng Thị L - Hoàng Ngọc H"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Hoàng Thị L và anh Hoàng Ngọc H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 262 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2023/HNGĐ-ST
Ngày 11-5-2023
V/v: “Ly hôn, con chung giữa chị
Liên và anh Huynh”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lại Văn Tùng.

Hội thẩm nhân dân:

Ông Hoàng Hào

Ông Phạm Văn Thọ

- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Hoàng Giang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Trần Trọng Dần - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 02/2023/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 01 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị L, sinh năm 1993; Địa chỉ: Xóm HP, xã HQ, huyện NT, tỉnh Nam Định;

Hiện nay đang cư trú và lao động tại Đài Loan; Địa chỉ: Thành phố Taoyuan, quận XinWu, đường Sanmin, số 568 tầng 2.

Bị đơn: Anh Hoàng Ngọc H, sinh năm 1992; Địa chỉ: Xóm HP, xã HQ, huyện NT, tỉnh Nam Định.

(Tại phiên tòa vắng mặt chị Hoàng Thị L và anh Hoàng Ngọc H có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 29 tháng 12 năm 2022, bản tự khai nguyên đơn chị Hoàng Thị L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị L kết hôn với anh Hoàng Ngọc H trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn vào ngày 10 tháng 5 năm 2016 tại Uỷ ban nhân dân xã Hồng Quang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định. Trong quá trình chung sống, vợ chồng chị Liên và anh Huynh sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, đến năm 2018 chị Liên đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng và không có tiếng nói chung, đến nay hai vợ chồng không thể hoà hợp, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau. Nay chị Liên xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng và mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hoàng Ngọc H.

Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng chị có một con chung cháu Hoàng Công Chính, sinh ngày 31-5-2017, hiện nay con chung đang sống cùng anh Huynh và bố mẹ anh Huynh tại Xóm HP, xã HQ, huyện NT. Khi ly hôn chị Liên nhất trí để con chung cho anh Huynh chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị tự nhận sẽ có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi cháu Chính 2.000.000đ/ tháng đến khi con chung trưởng thành theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung và công nợ: Chị Hoàng Thị L trình bày không đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết.

Hiện nay do chị đang sống và làm việc tại Đài Loan nên chị đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải để vợ chồng đoàn tụ và xin xét xử vắng mặt toàn bộ quá trình giải quyết vụ án.

* Tại bản tự khai ngày 12 tháng 4 năm 2023 bị đơn anh Hoàng Ngọc H trình bày: Anh Huynh và chị Hoàng Thị L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 10-5-2016 tại ủy ban nhân dân xã Hồng Quang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định. Sau khi kết hôn anh Huynh và chị Liên chung sống với nhau tại nhà bố mẹ đẻ anh ở Xóm HP, xã HQ, huyện NT, tỉnh Nam Định. Trong quá trình chung sống vợ chồng sống hòa thuận hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình và quan điểm sống không hòa hợp nhau, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Năm 2018 chị Liên đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan vợ chồng đã sống ly thân và chấm dứt mọi quan hệ với nhau từ đó, vợ chồng ít khi liên lạc với nhau, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn, vợ chồng không còn tình cảm nên không quan tâm gì đến nhau, đến nay anh và chị Liên đều đã xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn tiếp tục chung sống cùng nhau, cuộc sống chung không còn hạnh phúc, tình cảm ngày càng lạnh nhạt với nhau. Nay chị Liên làm đơn xin ly hôn với anh, quan điểm của anh cũng nhất trí ly hôn để giải phóng cho nhau.

Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng anh có một con chung cháu Hoàng Công Chính, sinh ngày 31-5-2017, hiện nay cháu sống cùng với anh và gia đình anh tại Xóm HP, xã HQ, huyện NT, tỉnh Nam Định. Khi ly hôn nguyện vọng của anh xin được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung, anh yêu cầu chị Liên phải cấp dưỡng nuôi con cho anh mỗi tháng 2.000.000đ đến khi con chung trưởng thành lao động tự lập được.

Về tài sản chung và công nợ: Anh Hoàng Ngọc H trình bày vợ chồng anh không có tài sản chung, không có công nợ chung nên không đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết.

Tại phiên toà hôm nay, chị Hoàng Thị L và anh Hoàng Ngọc H đều có đơn xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên ý kiến đã trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 21; Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, thông qua việc kiểm sát tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán đã tiến hành thu thập chứng cứ, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, tống đạt các quyết định tố tụng theo quy định tại các Điều 170, 171, 175, 177, 220 BLTTDS năm 2015. Từ khi thụ lý vụ án, nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 71, 72 BLTTDS như cung cấp chứng cứ. Về nội dung vụ án, theo quy định tại Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; có đủ căn cứ xử ly hôn giữa chị Hoàng Thị L và anh Hoàng Ngọc H. Con chung đề nghị giao cháu Hoàng Công Chính cho anh Hoàng Ngọc H nuôi dưỡng, chăm sóc, chị Liên phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Huynh mỗi tháng 2.000.000đ từ khi ly hôn đến khi con chung đến tuổi trường thành, chị Liên được quyền đi lại chăm sóc, thăm nom con. Tài sản chung, công nợ của chị Liên và anh Huynh không có nên không cần đề cập, giải quyết. Án phí chị Liên phải nộp theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Hoàng Thị L và anh Hoàng Ngọc H đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt chị Liên, anh Huynh.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị L và anh Hoàng Ngọc H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, có đăng ký kết hôn vào ngày 10 tháng 5 năm 2016 tại Uỷ ban nhân dân xã Hồng Quang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định như vậy cuộc hôn nhân này là hợp pháp.

Trong quá trình chung sống giữa chị Hoàng Thị L và anh Hoàng Ngọc H đã phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nay chị Liên xin ly hôn anh Huynh cũng nhất trí nên cần chấp nhận nguyện vọng xin ly hôn của chị Liên để giải phóng cho hai bên là phù hợp với quy định tại Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Vợ chồng chị Hoàng Thị L và anh Hoàng Ngọc H có một con chung cháu Hoàng Công Chính, sinh ngày 31-5-2017. Hiện nay con chung đang do anh Huynh và gia đình anh nuôi dưỡng, chăm sóc tại Xóm HP, xã HQ, huyện NT. Khi ly hôn, chị Liên nhất trí để con chung cho anh Huynh chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị tự nhận sẽ có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi cháu Chính 2.000.000đ/tháng đến khi con chung trưởng thành theo quy định của pháp luật. Anh Huynh có nguyện vọng xin được nuôi dưỡng, chăm sóc con chung, anh yêu cầu chị Liên có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000đ/tháng đến khi con chung trưởng thành.

Xét nguyện vọng của chị Hoàng Thị L và anh Hoàng Ngọc H trong việc nuôi con chung thì thấy: Cháu Hoàng Công Chính đang do anh Huynh và gia đình anh nuôi dưỡng, chăm sóc từ khi chị Liên cư trú và làm việc tại Đài Loan cho đến nay, cháu vẫn đang được ăn ở, cư trú ổn định, có môi trường sống tốt nhất để cho cháu được phát triển lành mạnh cả về thể chất và tinh thần, chị Liên đang cư trú và lao động tại Đài Loan ở xa nhà không có điều kiện để chăm sóc con chung, chị Liên đã có ý kiến thể hiện nguyện vọng để con chung cho anh Huynh nuôi dưỡng, chăm sóc. Xét thấy, việc chị Liên để con cho anh Huynh nuôi dưỡng, chăm sóc là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc, không trái đạo đức xã hội, không trái pháp luật nên được chấp nhận, con chung của vợ chồng anh, chị hiện nay còn nhỏ rất cần sự chăm sóc của người thân. Vì vậy, để đảm bảo sự phát triển mọi mặt của con chung nên cần tiếp tục giao cháu Hoàng Công Chính cho anh Huynh tiếp tục được nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 71, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng tiền nuôi con: Trong quá trình giải quyết vụ án chị Liên hoàn toàn tự nguyện nhận đóng góp mức cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Huynh là 2.000.000đ/tháng. Anh Huynh cũng yêu cầu chị Liên phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000đ. Do đó, cần buộc chị Liên phải có trách nhiệm đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung ở mức chị Liên tự nhận và phù hợp với mức anh Huynh yêu cầu là hoàn toàn phù hợp pháp luật, có căn cứ chấp nhận.

Về tài sản, công nợ chung: Chị Hoàng Thị L và anh Hoàng Ngọc H đều trình bày vợ chồng anh, chị không đề nghị Toà án xem xét, giải quyết nên khi giải quyết ly hôn về phần tài sản chung và công nợ chung của vợ chồng chị Liên, anh Huynh Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Về án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con chị Hoàng Thị L phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 55; khoản 1 Điều 56; Điều 71 ; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Hoàng Thị L và anh Hoàng Ngọc H.

2. Về nuôi con chung: Giao con chung cháu Hoàng Công Chính, sinh ngày 31-5-2017 cho anh Hoàng Ngọc H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành và có khả năng lao động tự lập được hoặc có tài sản để tự nuôi mình. Chị Hoàng Thị L phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Huynh 2.000.000đ/tháng, kể từ tháng 6 năm 2023 đến khi con chung đến tuổi trưởng thành và có khả năng lao động tự lập được hoặc có tài sản để tự nuôi mình, chị Liên được quyền chăm sóc, thăm nom con nhưng không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Chị Hoàng Thị L phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000đ tại biên lai số 0006820 ngày 04-01-2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Nam Định, chị Hoàng Thị L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

- Án phí cấp dưỡng nuôi con chung: Buộc chị Hoàng Thị L phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn một tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ, anh Hoàng Ngọc H vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI Đ NG XÉT X SƠ THẨM Nơi nhận:

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Các đương sự;

- VKSND tỉnh Nam Định;

- Cục THADS tỉnh Nam Định;

- UBND xã Hồng Quang;

- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

Lại Văn Tùng THÀNH VIÊN HỘI Đ NG XÉT X

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Hào

Phạm Văn Thọ

Lại Văn Tùng

Cỡ chữ