- Tranh chấp gì? Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "Hà Thị H- Nguyễn Văn T"
- Tòa quyết gì? Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39, Các Điều 143, 144, 147, 227, 228, 238, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9, Khoản 1 Điều 14, Khoản 2 Điều 53, Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 qu…
- Căn cứ chính? Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị
| TÒA ÁN NHÂN DÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| HUYỆN CHIÊM HÓA TỈNH TUYÊN QUANG Bản án số: 25/2023/HNGĐ-ST Ngày: 30-3-2023 “ Về việc: Yêu cầu không công nhận vợ chồng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH TUYÊN QUANG
- T3 phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị Bích Ngọc.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hà Đức Sơn.
2. Bà Nguyễn Thị Bích Hằng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Vân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Chu Thị Hoa- Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 324/2022/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2022 về việc “Yêu cầu không công nhận vợ chồng”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 15/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 10 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Hà Thị H, sinh năm 1973.
Địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện C, tỉnh Tuyên Quang.
(Có đơn xin xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1967.
Địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện C, tỉnh Tuyên Quang.
(Có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện đề ngày 19/12/2022, quá trình giải quyết nguyên đơn chị Hà Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Hà Thị H và anh Nguyễn Văn T1 tự nguyện tìm hiểu, được hai bên gia đình tổ chức cưới xin theo phong tục tập quán tại địa phương vào năm 1990 nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Sau khi cưới hỏi chị H và anh T1 chung sống tại thôn A, xã T, huyện C, tỉnh Tuyên Quang. Trong quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, cùng nhau chăm lo làm ăn kinh tế gia đình. Từ năm 1994 giữa chị H và anh T1 có xảy ra mâu T2ẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn. Đến năm 2018 mâu thuẫn trở nên trầm trọng, cuôc sống chung không hòa hợp và đã sống ly thân từ đó đến nay, chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn. Chị H đề nghị Tòa án giải quyết không công nhận vợ chồng giữa chị và anh T1 theo quy định của pháp luật.
Về con chung: Chị H và anh T1 có hai người con chung là cháu Nguyễn Thị T2, sinh ngày 28/01/1990 và cháu Nguyễn Văn T3, sinh ngày 01/11/1993. Hai con hiện đã đủ 18 tuổi, có khả năng tự nuôi sống bản thân nên tôi không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không đề nghị Tòa án giải quyết.
Nợ chung: Không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 21/02/2023 và trong quá trình giải quyết bị đơn anh Nguyễn Văn T1 trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Tôi và chị Hà Thị H tự nguyện tìm hiểu được hai bên gia đình cưới xin theo phong tục địa phương năm 1990 và không đăng ký kết hôn. Chúng tôi chung sống tại thôn A, xã T, huyện C. Năm 2004 chị H đi vào miền Nam làm ăn, không quan tâm đến gia đình, thỉnh thoảng chị H mới về, dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt, tôi và chị H đã sống ly thân từ năm 2004 đến nay. Anh T1 xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị H làm đơn đề nghị không công nhận vợ chồng với anh T1, anh T1 hoàn toàn nhất trí.
Về con chung: Tôi và chị H có hai người con chung là cháu Nguyễn Thị T2, sinh ngày 28/01/1990 và cháu Nguyễn Văn T3, sinh ngày 01/11/1993. Hai con hiện đã đủ 18 tuổi, có khả năng tự nuôi sống bản thân nên tôi không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không đề nghị Tòa án giải quyết.
Nợ chung: Không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại Biên bản xác minh ngày 21/02/2023 UBND xã T, huyện C cho biết: Kết quả tra cứu thông tin tại sổ đăng ký kết hôn được lưu trữ tại xã T, huyện C qua các năm, không có thông tin về việc đăng ký kết hôn giữa chị Hà Thị H và anh Nguyễn Văn T1, địa chỉ thôn A, xã T.
Tại phiên tòa chị H và anh T1 có đơn xin xét xử vắng mặt, giữ nguyên yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận vợ chồng đối với quan hệ chung sống của hai anh chị; Về nuôi con chung: Chị H và anh T1 có hai người con chung là cháu Nguyễn Thị T2, sinh ngày 28/01/1990 và cháu Nguyễn Văn T3, sinh ngày 01/11/1993. Hai con hiện đã đủ 18 tuổi, có khả năng tự nuôi sống bản thân nên không đề nghị Tòa án giải quyết. Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không đề nghị Tòa án giải quyết. Nợ chung: Không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa phát biểu: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn, bị đơn đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về hôn nhân: Chị Hà Thị H và anh Nguyễn Văn T1 chung sống với nhau từ năm 1990 đến nay không có đăng ký kết hôn là vi phạm quy định tại Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh T1 không được pháp luật công nhận. Vì vậy, áp dụng khoản 1 Điều 28, các Điều 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9, Khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53, Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: Không công nhận quan hệ giữa chị Hà Thị H và anh Nguyễn Văn T1 là vợ chồng.
Về nuôi con chung: Chị H và anh T1 có hai người con chung là cháu Nguyễn Thị T2, sinh ngày 28/01/1990 và cháu Nguyễn Văn T3, sinh ngày 01/11/1993. Hai con hiện đã đủ 18 tuổi, có khả năng tự nuôi sống bản thân nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không đề nghị Tòa án giải quyết. Nợ chung: Không có, không đề nghị Tòa án giải quyết. Do vậy không đề nghị xem xét.
Về án phí: Áp dụng Điều 143, 144, 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức T2, miễn, giảm, T2, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc chị Hà Thị H phải chịu án phí theo quy định.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật tại các Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Tòa án nhân dân huyện C nhận định:
Về tố tụng: Chị Hà Thị H có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết việc không công nhận vợ chồng với anh Nguyễn Văn T1 địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang là tranh chấp Hôn nhân và gia đình T2ộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện C quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa chị H, anh T1 xin xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về hôn nhân: Chị H, anh T1 trình bày việc chung sống với nhau từ năm 1990 đến nay không đăng ký kết hôn. Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa đã xác minh tại UBND xã T, huyện Chiêm Hóa (nơi chị H và anh T1 đã sinh sống) đều xác định không có thông tin về việc đăng ký kết hôn giữa chị H và anh T1. Như vậy, chị Hà Thị H và anh Nguyễn Văn T1 chung sống như vợ chồng từ năm 1990 đến nay không có đăng ký kết hôn là vi phạm quy định tại Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 9, Khoản 1 Điều 14, Khoản 2 Điều 53, Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 không công nhận quan hệ giữa Hà Thị H và anh Nguyễn Văn T1 là vợ chồng.
Về nuôi con chung: Chị H và anh T1 có hai người con chung là cháu Nguyễn Thị T2, sinh ngày 28/01/1990 và cháu Nguyễn Văn T3, sinh ngày 01/11/1993. Hai con hiện đã đủ 18 tuổi, có khả năng tự nuôi sống bản thân nên tôi không đề nghị Tòa án giải quyết. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không đề nghị Tòa án giải quyết. Nợ chung: Không có, không đề nghị Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Áp dụng các Điều 143, 144, 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức T2, miễn, giảm, T2, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chị Hà Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo : Áp dụng các Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39, Các Điều 143, 144, 147, 227, 228, 238, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9, Khoản 1 Điều 14, Khoản 2 Điều 53, Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức T2, miễn, giảm, T2, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ giữa chị Hà Thị H và anh Nguyễn Văn T1 là vợ chồng.
2. Về án phí: Chị Hà Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng). Chị H đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C theo biên lai T2 tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0006071 ngày 27/12/2022, nay được chuyển T3 tiền án phí.
Anh Nguyễn Văn T1 không phải chịu án phí.
3.Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND huyện C ; - VKSND tỉnh Tuyên Quang; - Chi cục THADS huyện Chiêm Hóa; - UBND xã T; - Các đương sự; - Lưu HS + VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Đào Thị Bích Ngọc |