vanban.org

Bản án 25/2023/HN-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phan Thị Xuân Y.

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Phan Thị Xuân Y được ly hôn với anh Phạm Hồng D. Về con chung: Giao hai con chung tên Phạm Ngọc Xuân N, sinh ngày 18/7/2014 và Phạm Ngọc Đông N, sinh ngày 18/7/2014 cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng. Anh D có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai con chung mỗi tháng 1.500.000đồng (75… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phan Thị Xuân Y.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GÒ CÔNG TÂY

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH TIỀN GIANG
Bản án số: 25/2023/HN-ST
Ngày: 02/02/2023
V/v “Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG TÂY, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Bình.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Nệm.

Bà Nguyễn Thị Cẩm Hồng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Ngọc Hạnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Tây gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Qúi – Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 372/2022/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2022 về tranh chấp “Xin ly hôn”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 166/2022/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2023/QĐST-HN ngày 12 tháng 01 năm 2023, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Phan Thị Xuân Y, sinh năm 1982.

Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện M, Bến Tre.

* Bị đơn: Phạm Hồng D, sinh năm 1977.

Địa chỉ: ấp P, xã L, huyện G, Tiền Giang.

(Các đương sự vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, biên bản hòa giải chị Y trình bày:

Chị và anh D do quen biết tiến tới hôn nhân có tổ chức cưới nhau năm 2009 và có đăng ký kết hôn được Uỷ ban nhân dân xã B, huyện M cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 05/5/2009. Sau khi kết hôn vợ chồng cùng đi làm tại Thành phố Hồ Chí Minh, sống hạnh phúc đến năm 2014 thì vợ chồng xảy ra bất hòa hay cải vã nhau do anh D không lo làm ăn, hay cờ bạc, cá độ rồi thiếu nợ rất nhiều. Đến năm 2017 do thiếu nợ không có tiền trả nên anh D không về nhà cũng như không chu cấp tiền nuôi con nên vợ chồng đã ly thân từ năm 2017 đến nay. Nay, chị yêu cầu được ly hôn với anh D.

Về con chung: Chị yêu cầu được nuôi dưỡng hai con chung tên Phạm Ngọc Xuân N, sinh ngày 18/7/2014 và Phạm Ngọc Đông N, sinh ngày 18/7/2014. Chị yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi hai con chung mỗi tháng 1.500.000đồng (750.000đồng/cháu) đến khi cháu trưởng thành.

Về tài sản chung và nợ chung: Không tranh chấp.

* Bị đơn anh Phạm Hồng D vắng mặt, mặc dù được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập, thông báo thụ lý vụ án, các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị Y.

* Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát:

Về việc tuân theo pháp luật: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều tuân thủ đúng quy định pháp luật.

Về việc giải quyết vụ kiện: Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; đề nghị Hội đồng xét xử: Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Y và anh D. Về con chung: Giao hai con chung tên Phạm Ngọc Xuân N, sinh ngày 18/7/2014 và Phạm Ngọc Đông N, sinh ngày 18/7/2014 cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng. Anh D cấp anh D cấp dưỡng nuôi hai con chung mỗi tháng 1.500.000đồng (750.000đồng/cháu) đến khi cháu trưởng thành.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Qua Nên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng, quan hệ tranh chấp: Chị Phan Thị Xuân Y và anh Phạm Hồng D tự nguyện tổ chức cưới năm 2009, có đăng ký kết hôn được Ủy ban nhân dân xã Bình Khánh Tây, huyện Mỏ Cày Nam, Bến Tre cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 18 ngày 05/5/2009 là hôn nhân hợp pháp. Nay tranh chấp được xem xét giải quyết theo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014 và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định Điều 28, 35 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn anh D đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh D.

Nguyên đơn chị Y có đơn xin vắng mặt dự phiên tòa. Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị Y.

Về nội dung:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và biên bản hòa giải chị Y yêu cầu được ly hôn với anh D, nguyên nhân do anh D không lo làm ăn, hay cờ bạc, cá độ rồi thiếu nợ rất nhiều nên vợ chồng xảy ra mâu thuẫn dẫn đến vợ chồng ly thân từ năm 2017 đến nay. Xét yêu cầu ly hôn của chị Y, Hội đồng xét xử thấy rằng, mâu thuẫn chị Y trình bày là có xảy ra điều này được thể hiện Tòa án đã nhiều lần mời anh D đến hòa giải đoàn tụ nhưng anh không đến, không có văn bản trình bày ý kiến cũng như không phản đối đối với yêu cầu ly hôn của chị Y. Hơn nữa, anh chị đã ly thân trong thời gian dài, không tạo điều kiện hàn gắn tình cảm nên mục đích hôn nhân không đạt được, do đó, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Y là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014.

Về con chung: Anh chị có hai con chung tên Phạm Ngọc Xuân N, sinh ngày 18/7/2014 và Phạm Ngọc Đông N, sinh ngày 18/7/2014. Ly hôn chị Y yêu cầu được nuôi dưỡng hai con chung. Xét thấy, cháu Xuân N và Đông N đã sống với chị Y ổn định về tâm lý, chổ ở, đồng thời phù hợp với nguyện vọng của hai cháu có mong muốn được sống với mẹ nên cần tiếp tục giao cháu Đông N và Xuân N cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng là hoàn toàn có căn cứ phù hợp với Điều 81, 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Người không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom chăm sóc con chung, không ai được quyền ngăn cản.

Về cấp dưỡng: Xét yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi hai cháu Xuân N và Đông N mỗi tháng 1.500.000đồng (750.000đồng/cháu) là có cơ sở phù hợp với Điều 110 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Y không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Xét lời phát biểu đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Chị Y, anh D phải chịu án phí theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phan Thị Xuân Y.

- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Phan Thị Xuân Y được ly hôn với anh Phạm Hồng D.

- Về con chung: Giao hai con chung tên Phạm Ngọc Xuân N, sinh ngày 18/7/2014 và Phạm Ngọc Đông N, sinh ngày 18/7/2014 cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng. Anh D có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai con chung mỗi tháng 1.500.000đồng (750.000đồng/cháu) kể từ khi án có hiệu lực pháp luật đến khi hai cháu trưởng thành.

Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được quyền ngăn cản.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Y không tranh chấp.

- Về án phí HNST:

+ Chị Phan Thị Xuân Y phải chịu số tiền 300.000đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng 300.000đồng theo biên lai số 0026552 ngày 24/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Công Tây. Như vậy, chị Y đã nộp xong.

+ Anh Phạm Hồng D phải chịu 300.000đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh D, chị Y kháng cáo kể từ ngày Tòa án tống đạt hoặc niêm yết bản án hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Cỡ chữ