- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Nguyễn Thị T - Nguyễn Thị Thu V"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T đối với bà Nguyễn Thị Thu V, ông Nguyễn Văn S về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2023/DS-ST Ngày: 27-4-2023 V/v tranh chấp hợp đồng góp hụi |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Cẩm Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Mỹ Trang;
Các Hội thẩm nhân dân: 2. Ông Đỗ Tài Công.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Tuyết Mai, Thư ky Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Ông Võ Công Đức, Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ ly số 405/2022/TLST-DS ngày 24 tháng 11 năm 2022 về việc: “Tranh chấp Hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2023/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 3 năm 2023 và Quyết định hoan phiên tòa số: 16/2023/QĐST-DS ngày 27 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1982; cư trú tại: Nhà số 78, tổ 6, ấp P2, xa P, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh; có đơn xin xét xử văng măt.
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thu V, sinh năm 1962 và ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1958, cùng cư trú tại: Tổ 17, ấp P2, xa P, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh; văng măt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khơi kiện ngày 24-11-2022, trong quá trinh giai quyêt vu án, nguyên đơn – chị Nguyễn Thị T trinh bày:
Do quen biết, chị có tham gia chơi các dây hụi do vợ chồng bà Nguyễn Thị Thu V, ông Nguyễn Văn S làm chủ thảo, hiện ông S, bà V đa tuyên bố bể hụi, không trả lại tiền hụi cho chị. Bà V, ông S nợ chị tiền hụi cụ thể như sau:
1/ Hụi 500.000 đồng/1 tháng, mở ngày 09-02-2019 (âm lịch), chia làm 04 dây, mỗi dây gồm 22 phần, chị tham gia chơi mỗi dây 01 phần, đóng hụi sống được 13 kỳ, tổng số tiền đa đóng là: 13 kỳ x 04 phần = 15.600.000 đồng.
2/ Hụi 1.000.000 đồng/1 tháng, mở ngày 06-6-2019 (âm lịch), gồm gồm 22 phần, chị tham gia chơi 01 phần, đóng hụi sống được 09 kỳ, tổng số tiền đa đóng là 6.300.000 đồng.
4/ Hụi 500.000 đồng/1 tháng khui hai lần, mở ngày 10/12/2019 (âm lịch), gồm 28 phần, chia làm hai dây, chị tham gia chơi mỗi dây 01 phần, đóng hụi sống được 05 kỳ, tổng số tiền đa đóng là 3.000.000 đồng.
Tổng số tiền hụi sống chị đa đóng là 24.900.000 đồng.
Nay chị khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà Nguyễn Thị Thu V và ông Nguyễn Văn S trả số tiền góp hụi chị đa tham gia chơi hụi do vợ chồng bà V, ông S làm chủ thảo là 24.900.000 đồng, không yêu cầu tính lai.
Bị đơn là bà Nguyễn Thị Thu V và ông Nguyễn Văn S vắng mặt, không tham gia tố tung nên không có lời trinh bày.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu phát biểu quan điểm về vu án:
+ Về tố tụng: Thẩm phán thụ ly, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoan đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, thư ky phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Đương sự thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của đương sự. Chị Nguyễn Thị T có đơn xin văng măt, bà Nguyễn Thị Thu V, ông Nguyễn Văn S đa được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng đều văng măt, không có ly do, xem như từ bỏ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70 và Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử văng măt các đương sự đúng theo quy định tại Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
+ Về nội dung: Căn cứ vào Điều 471 của Bộ luật Dân sự 2015; Nghị định số: 19/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 02 năm 2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản ly và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T đối với bà Nguyễn Thị Thu V, ông Nguyễn Văn S về việc “Tranh chấp Hợp đồng góp hụi”.
+ Buộc bà V, ông S có trách nhiệm trả cho chị T số tiền hụi: 24.900.000 đồng. Ghi nhận chị T không yêu cầu tính lai.
- Các đương sự phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị T căn cứ vào danh sách hụi viên mà bà Nguyễn Thị Thu V lập để khởi kiện, theo đó, bà Nguyễn Thị Thu V, ông Nguyễn Văn S có địa chỉ cư trú tại: Tổ 17, ấp P2, xa P, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh. Tại Công văn số: 155/CSĐT ngày 18 tháng 4 năm 2022 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Huyện Dương Minh Châu về việc chuyển hồ sơ thụ ly vụ án theo thẩm quyền xác định bà V, ông S làm chủ thảo hụi, sau khi tuyên bố bể hụi vào tháng 2-2020, đa rời khỏi địa phương. Việc bà V, ông S thay đổi nơi cư trú mới theo quy định tại khoản 3 Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 277 của Bộ luật Dân sự được coi là cố tình giấu địa chỉ. Do đó, căn cứ vào khoản 3 Điều 6 Nghị quyết số: 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05 tháng 5 năm 2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án. Địa chỉ cư trú cuối cùng của bà V, ông S là tại xa Phan, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu theo quy định tại Điều 26, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Quá trình giải quyết vụ án, bà V, ông S đa được tống đạt hợp lệ nhưng văng măt không ly do, chị Nguyễn Thị T có đơn xin xét xử văng măt. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử văng măt các bên đương sự.
Về đánh giá chứng cứ:
Hụi tranh chấp do bà V làm chủ thảo. Tuy nhiên, bà V, ông S có mối quan hệ vợ chồng, hụi chơi từ năm 2018 đến năm 2020, sau khi bà V tuyên bố bể hụi, bà V cùng ông S đa rời khỏi địa phương, trốn tránh nghĩa vụ trả nợ cho các hụi viên. Do đó, lời khai của chị T cho rằng tiền hụi, bà V, ông S cùng sử dụng chi phí trong gia đình, nên bà V, ông Sơn phải có nghĩa vụ cùng trả nợ cho chị T là có căn cứ.
Xét yêu cầu khởi kiện của chị T, thấy rằng: chị T khởi kiện yêu cầu bà V, ông S có nghĩa vụ cùng trả tiền nợ hụi tổng cộng là 24.900.000 đồng, chứng cứ là danh sách hụi viên của các dây hụi do bà V cung cấp, có chữ ky của bà V, bảng tính tiền hụi đóng từng tháng do chị T đa tự kết toán phù hợp với lời khai của các hụi viên khác. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đa tiến hành niêm yết chứng cứ đồng thời cùng với các văn bản tố tụng cho bà V, ông S nhưng bà V, ông S đều văng măt không có ly do, không thực hiện quyền và nghĩa vụ chứng minh nên bà V, ông S không đưa ra chứng cứ chứng minh theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Theo chứng cứ là danh sách các dây hụi, bảng tính tiền hụi do chị T cung cấp đối với các dây hụi do bà V làm chủ thảo, xác định số tiền hụi chị T đa giao cho bà V cụ thể như sau:
+ Hụi 500.000 đồng/1 tháng, mở ngày 09-02-2019 (âm lịch), chia làm 04 dây, mỗi dây gồm 22 phần, chị tham gia chơi mỗi dây 01 phần, đóng hụi sống được 13 kỳ, tổng số tiền đa đóng là: 13 kỳ x 04 phần = 15.600.000 đồng.
+ Hụi 1.000.000 đồng/1 tháng, mở ngày 06-6-2019 (âm lịch), gồm gồm 22 phần, chị tham gia chơi 01 phần, đóng hụi sống được 09 kỳ, tổng số tiền đa đóng là 6.300.000 đồng.
+ Hụi 500.000 đồng/1 tháng khui hai lần, mở ngày 10/12/2019 (âm lịch), gồm 28 phần, chia làm hai dây, chị tham gia chơi mỗi dây 01 phần, đóng hụi sống được 05 kỳ, tổng số tiền đa đóng là 3.000.000 đồng.
Tổng số tiền hụi sống chị đa đóng hụi là 24.900.000 đồng.
Tư các phân tich trên, Hội đồng xét xử có cơ sở châp nhận yêu câu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T, cân buộc bà Nguyễn Thị Thu V, ông Nguyễn Văn S cùng có nghĩa vụ trả cho chị T số tiền 24.900.000 (hai mươi bốn triệu chin trăm nghìn) đồng.
Ghi nhận, chị T không yêu cầu tính lai.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản ly và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bà Nguyễn Thị Thu V, ông Nguyễn Văn S phải chịu án phí đối với yêu cầu của chị Nguyễn Thị T được chấp nhận: 05% x 24.900.000 đồng = 1.245.000 đồng.
Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh phù hợp với nhận định của Tòa án nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 463, 466, 471 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 147, 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điều 27 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản ly và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T đối với bà Nguyễn Thị Thu V, ông Nguyễn Văn S về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”.
1.1 Buộc bà Nguyễn Thị Thu V, ông Nguyễn Văn S cùng có nghĩa vụ trả cho chị Nguyễn Thị T số tiền nợ hụi 24.900.000 (hai mươi bốn triệu chín trăm nghìn) đồng.
1.2 Ghi nhận chị Nguyễn Thị T không yêu cầu tính lai.
1.3 Kể tư ngày người được thi hành án có đơn yêu câu thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tât cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suât quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
2.1 Bà Nguyễn Thị Thu V, ông Nguyễn Văn S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.245.000 (một triệu hai trăm bốn mươi lăm nghìn) đồng.
2.2 Chị Nguyễn Thị T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho chị T số tiền tạm ứng án phí đa nộp là 622.500 (sáu trăm hai mươi nghìn năm trăm) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số: 0012825 ngày 24 tháng 11 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.
3. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 kể từ ngày tuyên án. Đương sự văng măt tại phiên tòa hoăc không có măt khi tuyên án mà có ly do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoăc bản án được niêm yết.
4. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoăc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - Chi cục THADS H.DMC; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; - Lưu tập án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Thị Cẩm Hà |