vanban.org

Bản án 25/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang Tuyên án 27/04/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2022/HSST;
Ngày: 27/4/2022.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG - TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Th m phán – Ch t a phiên tòa: Ông Nguyễn Cao Tuấn;

Các H i th m nhân dân:

Bà: Lê Thị Ngọc Thúy;

Bà: Huỳnh Thị Tỏ;

- Thư phi n t a: Bà Phạm Thị Mỹ Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang.

- i di n i n i m s t nh n d n hu n

ng ng – t nh Ti n iang tham gia phi n t a: Ông Phan Minh Tân – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông x t xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 19/2022/TLST-HS ngày 16 tháng 3 năm 2022 theo quyết định đưa vụ án ra x t xử số 20/2022/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2022 và quyết định hoãn phiên tòa số 61/2022/QĐST-HS ngày 14 tháng 4 năm 2022 đối v i bị cáo:

Ngô Tấn C sinh năm xxxx, tại Tiền Giang; Nơi cư trú: Ấp 6, xã T, huyện G, tỉnh T; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ văn hóa: 03/12; Dân tộc kinh; Gi i tính: nam; Tôn giáo không; quốc tịch Việt Nam; Con ông Ngô Văn Đ và bà Nguyễn Thị A; Vợ Phan Hồng D; con có 01 cháu sinh năm xxxx; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ ngày 31/12/2021, chuyển sang tạm giam từ ngày 03/01/2022 đến nay (có mặt tại phiên tòa).

* Ng i b h i: Lê Kim C – sinh nngày xx/xx/xxxx; Nơi cư trú: Ấp X, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang; (có mặt).

* Ng i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Quốc H (T) – sinh năm xxxx; Nơi cư trú: Ấp X, xã T, huyện G, tỉnh T (có đơn xin x t xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 18/7/2021 ông Lê Kim C dựng xe mô tô hai bánh loại FUTURE FI màu đen đỏ xám biển số 63B7-354.67 trư c chùa Phư c Long

- 2 -

thuộc ấp 7, xã Tân Tây, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang (ông C là trụ trì chùa Phư c Long). Đến 14 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo Ngô Tấn C đi lại lấy trộm xe mô tô trên của ông C và dẫn đến nhà anh Nguyễn Quốc H ngụ ấp X, xã, huyện G, tỉnh T. Lúc này, bị cáo C nhờ anh H mở dùm ổ khóa để xe chạy vì bị mất chìa khóa thì anh H đi xuống phía sau nhà lấy một cái k o và một tua vít đi lên đưa cho bị cáo một cái k o, còn anh H cầm tua vít để tháo ốc xe giúp, trong lúc đang tháo thì ông C đi ngang qua nhà H thấy H và bị cáo C đang tháo xe của ông C nên ông C đi lại hỏi “sao lấy xe của ông”, bị cáo C biết ông C phát hiện mình trộm xe mô tô của ông C nên bỏ đi về nhà và trốn khỏi nơi cư trú. Tại Kết luận định giá tài sản số 128 ngày 27/7/2021, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện G có kết luận 01 (một) xe mô tô hai bánh, hiệu HONDA, loại xe FUTURE FI màu đen đỏ xám, biển số 63B7 – 354.67, số khung 7614GZ048904, số máy JC76E0071867, đăng ký lần đầu ngày 24/7/2017, nguyên giá 33.000.000 đồng, giá trị còn lại 60%. Tổng giá trị tài sản định giá: 19.800.000 đồng (mười Cn triệu tám trăm nghìn đồng). Tại Cáo trạng số 22/CT-VKS.GCĐ ngày 16 tháng 3 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông đã truy tố bị cáo Ngô Tấn C về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông giữ quyền công tố vẫn giữ y quan điểm về tội danh và khung hình phạt như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng x t xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Ngô Tấn C từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Gò Công Đông đã trao trả lại cho ông Lê Kim C 01 xe mô tô hai bánh, biển số 63B7 – 354.67; hiệu HONDA, loại xe FUTURE FI màu đen đỏ xám xong, ông C không có yêu cầu gì thêm nên đề nghị Hội đồng x t xử ghi nhận. Đối v i anh Nguyễn Quốc H đã cùng v i bị cáo C tháo ổ khóa xe của ông C. Tuy nhiên, anh H hoàn toàn không biết đây là tài sản do bị cáo C trộm cắp mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý đối v i H là có căn cứ. Đồng thời quá trình điều tra cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho anh H 01 cái kéo bằng kim loại màu trắng dài 11cm, cán k o được bọc nhựa màu đỏ dài 12cm và 01 tua vít bằng kim loại màu trắng dài 16,5cm, lưỡi màu trắng dài 8,5cm cán bằng nhựa màu trắng xanh dài 8cm, anh H không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng x t xử không x t.

- Ý kiến của những người tham gia tố tụng: Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng x t xử xem x t giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng x t xử nhận định như sau: [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện Gò Công Đông, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên

- 3 -

tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị cáo Ngô Tấn C khai nhận về hành vi mà bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông đã truy tố đối v i bị cáo. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp v i lời khai của người bị hại, cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở xác định: khoảng 14 giờ 30 phút ngày 18/7/2021 bị cáo Ngô Tấn C lén lút trộm 01 xe mô tô hiệu HONDA, loại xe FUTURE FI màu đen đỏ xám, biển số 63B7 – 354.67 của ông Lê Kim C dựng trư c cửa chùa Phư c Long, giá trị tài sản là 19.800.000 đồng.

Lời nhận tội của bị cáo phù hợp v i tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Ngô Tấn C phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đang ở độ tuổi thanh niên, đủ sức lao động tạo của cải vật chất để phục vụ nhu cầu cá nhân, giúp ích cho gia đình, xã hội; nhưng do bản tính tham lam, chây lười lao động, nên bị cáo thực hiện hành vi phạm tội là trộm cắp tài sản của ông Lê Kim C để thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, mà còn gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Do vậy, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc để cải tạo giáo dục bị cáo thành công dân lương thiện và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo C trộm cắp tài sản của ông Lê Kim C sinh ngày 15/01/1951 là người đủ 70 tuổi nên cần áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: X t bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 cho bị cáo khi lượng hình.

Về trách nhiệm dân sự: Tại cơ quan Điều tra bị hại ông Lê Kim C đã nhận lại tài sản là 01 xe mô tô loại xe FUTURE FI màu đen đỏ xám, biển số 63B7 – 354.67; Anh Nguyễn Quốc H đã nhận lại 01 cái k o bằng kim loại màu trắng dài 11cm, cán k o được bọc nhựa màu đỏ dài 12cm và 01 tua vít bằng kim loại màu trắng dài 16,5cm, lưỡi màu trắng dài 8,5cm cán bằng nhựa màu trắng xanh dài 8cm. Ông C, anh H không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng x t xử không xem xét.

Đối v i anh Nguyễn Quốc H đã cùng v i bị cáo C tháo ổ khóa xe của ông C. Tuy nhiên, anh H hoàn toàn không biết đây là tài sản do trộm cắp mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý đối v i H là có căn cứ.

Xét ý kiến và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở, phù hợp v i nhận định của Hội đồng x t xử nên chấp nhận.

- 4 -

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

c c tr n

QUY T ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Ngô Tấn C phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

p dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm i, khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử: Phạt bị cáo Ngô Tấn C 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 31/12/2021.

n phí: p dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1

Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Ngô Tấn C phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Báo bị cáo, bị hại biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, ngh a vụ liên quan vắng mặt biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ