vanban.org

Bản án 25/2022/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Ninh Bình Tuyên án 23/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bị cáo Nguyễn Quốc Đ phạm tội “Giết người”(chưa đạt).

Các bị cáo Nguyễn Văn C, Đinh Lê Hoàng M và Lê Văn Đ phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”. 1. Bị cáo Nguyễn Quốc Đ 10 (mười) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 14/11/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quốc Đ phạm tội giết người - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Bị cáo Nguyễn Quốc Đ phạm tội “Giết người”(chưa đạt).
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2022/HS-ST
Ngày 23 - 8 - 2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Tô Văn Thịnh

Thẩm phán:

Ông Nguyễn Đức Hiệp

Các hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Hậu

Ông Nguyễn Xuân Sinh

Bà Nguyễn Thị Luyến

- Thư ký phiên toà: Bà Ninh Thị Thanh Phương - Thẩm tra viên Toà án nhân dân tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Trịnh Văn Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 22/2022/TLST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2022/QĐXXST-HS ngày 8 tháng 8 năm 2022 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Quốc Đ, sinh ngày 15 tháng 10 năm 2003, nơi sinh tại tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Thôn P, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B và bà Đinh Thị T; vợ con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 14/11/2021 đến ngày 22/11/2021 chuyển tạm giam trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình (có mặt).

2. Nguyễn Văn C, sinh năm 1995, nơi sinh tại tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Thôn P, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị T; vợ con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

3. Đinh Lê Hoàng M, sinh ngày 22 tháng 7 năm 2003, tại tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Thôn P, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Sinh viên; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn T và bà Lê Thị T; vợ con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

4. Lê Văn Đ1, sinh ngày 10 tháng 01 năm 2003, tại tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Thôn P, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Đ và bà Nguyễn Thị T; vợ con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Quốc Đ theo chỉ định: Ông Phan Tiến Minh - Luật sư - Văn phòng luật sư Tiến Minh thuộc Đoàn luật sư tỉnh Ninh Bình (có mặt).

- Bị hại: Anh Vũ Minh C, sinh ngày 05 tháng 6 năm 2003; nơi cư trú: Số nhà 2, đường V, phố H, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình (có mặt).

- Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn B, bà Đinh Thị T, anh Phan Tiến L, anh Vũ Xuân P, anh Đinh Hoàng A (có mặt). Chị Nguyễn Ngọc Hà M, anh Đinh Mạnh H, anh Lã Văn T (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

[ơ

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Quốc Đ và chị Nguyễn Ngọc Hà M, sinh năm 2003, ở phố P, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình yêu nhau từ tháng 01/2021, đến tháng 7/2021 thì chia tay. Sau đó, chị M yêu anh Vũ Minh C, sinh năm 2003, trú tại phố B, phường N, thành phố N. Biết chị M và anh C yêu nhau, Đ đã nhiều lần gọi điện, nhắn tin chửi bới, xúc phạm và thách thức đánh nhau với anh C. Khoảng 17 giờ ngày 13/11/2021, anh C điện thoại hẹn Đ đến xã K, huyện Y để nói chuyện, giải quyết mâu thuẫn, Đ đồng ý và nảy sinh ý định đánh anh C nên đã về nhà lấy 01 con dao bấm bằng kim loại, dài 22,8cm, phần lưỡi dao dài 11cm, chỗ rộng nhất 2,1cm (chiều dài dao khi gập lại là 13,1cm) Đ mua trên mạng xã hội khoảng 3 năm trước bỏ vào túi áo khoác của mình. Biết việc Đ và C hẹn gặp nhau, lo sợ xảy ra đánh nhau nên chị M điện thoại cho bạn học cùng trường THPT Đinh Tiên Hoàng, thành phố N là Trần Văn K, Đặng Tài N đều sinh năm 2003, trú tại phường N và Nguyễn Thế V, sinh năm 2003, trú tại thôn Đ, xã N, Lã Văn T, sinh năm 2003, trú tại phố T, phường N, thành phố N đi cùng để can ngăn. Khoảng 19 giờ ngày 13/11/2021, Đ nhắn tin cho các bạn qua Facebook của mình gồm: Đinh Lê Hoàng M, Phan Tiến L, Đinh Hoàng A, Vũ Xuân P, Lê Văn Đ1, đều sinh năm 2003 trú tại xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình, thông báo việc Đ và C hẹn gặp nhau để nói chuyện, giải quyết mâu thuẫn. Đ hẹn các bạn đến nhà bà Đinh Thị S, sinh năm 1954, trú tại thôn P, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình (bà nội của Đinh Hoàng A) để nói chuyện. Sau đó, Đ điều khiển xe mô tô đón M, L, P, Đ1 đến nhà bà S, tại đây gặp anh Đinh Hoàng A cùng em họ là anh Đinh Mạnh H, sinh năm 2001, trú tại thôn 12, xã K, huyện Yê, tỉnh Ninh Bình. Quá trình nói chuyện, Đ cho anh Đinh Hoàng A xem nội dung tin nhắn chửi nhau, thách thức đánh nhau giữa Đ và C. Thấy Đ có thái độ bực tức nên anh H hỏi “mày bị làm sao vậy”, Đ trả lời “đang chửi nhau với thằng trên Ninh Bình”. Quá trình nói chuyện với mọi người, Đ giơ con dao mang theo người từ trước ra và nói “Cay lắm rồi” rồi cất dao vào trong người. Đinh Hoàng A thấy vậy nên can ngăn nói “Sắp đi lính rồi, đủ tuổi rồi, bớt đánh nhau đi không là đi tù đấy”, Đ không nói gì. Khi đang ngồi nói chuyện với nhóm bạn của mình thì Đ nhận được điện thoại của chị M, Đ đứng dậy lấy xe đi, anh H hỏi “Em đi đâu vậy”, Đ trả lời “Đi gặp người yêu”. Đ đi xe máy đến chỗ chị M hẹn nhưng không gặp nên Đ quay lại nhà bà S ngồi nói chuyện cùng nhóm bạn.

Khoảng 21 giờ cùng ngày, chị Nguyễn Ngọc Hà M điện thoại gọi Đ ra để nói chuyện. Thấy Đ đi ra ngoài, Đinh Hoàng A hỏi "Đi đâu vậy" , Đ trả lời "Có gì tao gọi”. Sau đó, Đạt điều khiển xe mô tô ra đến Quốc lộ 10, thuộc thôn P, xã K gặp chị M và đứng nói chuyện. Lúc này, các anh Trần Văn K, Đặng Tài N, Nguyễn Thế V và Lã Văn T đi đến gần nơi Đ và chị M đang đứng, anh Vũ Minh C một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, biển kiểm soát 35B1- 334.77 đến chỗ K, N, V và T. Thấy có nhiều người đến, sợ bị đánh nên Đ đi về cổng nhà mình và điện thoại cho P nói “bọn Ninh Bình nó xuống rồi anh em ra đi, nhanh lên”, P nói với cả nhóm bạn đang ở nhà bà S “Anh em ra tý, bọn Ninh Bình xuống rồi”, sau đó anh H điều khiển xe mô tô chở M và L, Đinh Hoàng A điều khiển xe mô tô chở Đ1 còn anh P một mình điều khiển xe mô tô đến chỗ Đ, lúc này C, K, V, T, N rủ nhau điều khiển xe mô tô đi về hướng thành phố Ninh Bình, thấy vậy Đ liền điện thoại cho anh V hỏi “Thằng C đi cùng với bọn mày à, nó đi xe gì”, anh V nói “Ừ, nó đi xe Wave”, Đ nói “Bảo nó quay lại”, anh V nói “Ừ”. Cùng lúc này, chị M gọi điện thoại cho anh C bảo quay lại để cùng về, anh C điều khiển xe quay lại đón chị M. Các anh K, T, V và N đi theo sau xe anh C. Khi đang đứng trong ngõ nhà mình, Đ nhìn thấy anh họ là Nguyễn Văn C đang đứng ở quán tạp hóa phía bên đường đối diện nên Đ đã điện thoại cho C nói “Em đang đánh nhau bên này” rồi tắt máy, C quan sát rồi đi đến chỗ Đ, mục đích để đánh nhau hỗ trợ cho Đ.

Khi thấy anh C điều khiển xe mô tô đi về phía mình, Đ rút dao từ trong người chạy đến vị trí bên phải xe mô tô của anh C, cách anh C khoảng 40cm, tay trái Đ túm giữ vai áo bên phải của anh C còn tay phải cầm dao đâm 01 phát theo chiều từ phải sang trái, từ ngoài vào trong, trúng vào ngực phải của anh C. Đ rút dao ra, tiếp tục đâm tiếp phát thứ 2, trúng vào vùng xương ức của anh C, làm anh C bị thương, ngã xuống đường. Thấy Đ đánh anh C, L chạy đến can ngăn và đẩy Đ ra, anh C đứng lên bỏ chạy ra lòng đường thì va vào đầu xe mô tô do Đinh Hoàng A điều khiển chở Lê Văn Đ ngồi sau đang sang đường nên anh C tiếp tục ngã ra đường. Lúc này, Lê Văn Đ nhảy từ trên xe xuống, dùng chân đạp một phát vào lưng anh C. Tiếp đó, Nguyễn Văn C chạy đến, dùng chân phải đạp một phát vào vùng đầu của anh C còn Đinh Lê Hoàng M từ lề đường chạy đến, dùng chân phải đạp một phát vào phía sau lưng anh C, anh C đứng dậy thì bị Đ tiếp tục lao đến cầm dao bằng tay phải đâm liên tiếp 07 nhát nữa trúng vào phần chân trái, đùi trái và mông trái, làm anh C gục xuống đường. Quá trình cầm dao đâm anh C, Đ bị dao cứa vào tay làm rách da đầu ngón cái tay phải dài 2,5cm. Lúc này có L, P, H vào can ngăn, L giằng dao từ tay của Đ và đưa cho H, H đưa dao cho Đinh Hoàng A. Sau đó, Nguyễn Quốc Đ đi về nhà rồi đến Công an xã K, huyện Y đầu thú về hành vi phạm tội của mình còn Đinh Lê Hoàng M, Lê Văn Đ1, Đinh Hoàng A, Phan Tiến L, Vũ Xuân P, Đinh Mạnh H điều khiển xe mô tô đi về nhà bà Suất. Sau đó, Đinh Hoàng A chở Đinh Lê Hoàng M và Lê Văn Đ1 ra về, trên đường đi Đinh Hoàng A vứt con dao Đ vừa dùng để đâm anh C xuống kênh K, thuộc xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Y đã truy tìm thu giữ con dao ký hiệu A1 để trưng cầu giám định.

Anh Vũ Minh C bị vết thương thấu ngực xuyên qua gan, xuyên qua thận phải, chốt ở cơ thắt lưng bên phải và các vết thương ở đùi trái, mông trái, cẳng chân trái, được mọi người đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Bình đến ngày 24/11/2021 ra viện.

* Kết quả khám nghiệm hiện trường ngày 13/11/2021:

- Hiện trường nơi xảy ra vụ án được xác định tại đường quốc lộ 10, thuộc thôn P, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình, phía Tây Nam giáp với nhà bà Đinh Thị B, sinh năm 1962 và nhà anh Trịnh Đức T sinh năm 1988 đều ở thôn P, xã K; phía Đông Bắc tiếp giáp với khu dân cư thôn P, xã K, huyện Y; phía Đông Nam là đường hướng đi huyện K; hướng Tây Bắc là đường hướng đi thành phố N.

- Cách mép đường bên phải hướng từ thành phố N đi huyện K 0,4m phát hiện 01 vết dị vật màu nâu đỏ, kích thước (0,1x0,12)m ký hiệu M1.

- Cách mép đường bên phải hướng từ thành phố N đi huyện K 1m phát hiện 1 vết dầu loang kích thước (0,2x0,25)m.

- Tại vị trí phần đất lưu không nhà bà Đinh Thị B, cách mép đường bên phải hướng đi từ thành phố N xuống huyện K 1,15m phát hiện 01 dấu vết dị vật dạng nhỏ giọt màu nâu đỏ, kích thước (0,02x0,03)m.

- Mở rộng hiện trường ra khu vực xung quanh phát hiện tại đốc nhà phía Đông Nam nhà anh Trịnh Đức T có lắp 01 camera ghi hình màu trắng - đen, mắt của máy ghi hình quay ra hướng đường quốc lộ 10 hướng đi từ thành phố N xuống huyện K.

Cơ quan điều tra đã tiến hành trích xuất Camera của gia đình anh Trịnh Đức T, sinh năm 1988 ở thôn P, xã K, huyện Y vào 01 USB để trưng cầu giám định.

Quá trình khám nghiệm hiện trường CQĐT đã thu giữ: mẫu máu tại hiện trường ký hiệu M1; mẫu máu của Nguyễn Quốc Đ ký hiệu M2; mẫu máu của Vũ Minh C ký hiệu M3 để trưng cầu giám định. Thu giữ của Vũ Minh C 01 đôi giày thể thao màu trắng - đen, nhãn hiệu NIKE; 01 quần vải màu đen - trắng; 01 áo khoác màu đen - trắng (dạng áo phao); 01 áo vải màu đen - trắng dạng áo dài tay bị rách hoàn toàn không xác định được.

Cơ quan CSĐT đã ra Quyết định trưng cầu giám định thương tích đối với Vũ Minh C, mẫu máu thu tại hiện trường, mẫu máu của Nguyễn Quốc Đ, của Vũ Minh C, mẫu máu trên con dao, giám định kỹ thuật số và điện tử.

* Kết luận giám định :

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 087/2021/ThT-GĐPY ngày 19/11/2021 của Trung tâm pháp y, sở Y tế tỉnh Ninh Bình đối với anh Vũ Minh C xác định:

- Vết thương mặt trước xương ức; vết thương ngực phải; vết thương (nếp lằn mông trái; 1/3 trên trước ngoài đùi trái; bờ trên gối trái; bờ ngoài gối trái; 1/3 trên trước trong cẳng chân trái; 1/3 giữa sau ngoài cẳng chân trái; 1/3 giữa sau đùi trái);

- Vết mổ đường trắng giữa trên dưới rốn; vết mổ đặt dẫn lưu khoang màng phổi phải; 02 vết mổ đặt dẫn lưu ổ bụng;

- Tổn thương màng phổi phải; khâu vết thương cơ hoành;

- Khâu vết thương gan; khâu vết thương thận phải.

Kết luận: “Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 62%. Cơ chế hình thành thương tích: Tổn thương do vật sắc nhọn trực tiếp gây nên”.

Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Ninh Bình trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh Ninh Bình giám định bổ sung tỷ lệ % tổn hại sức khỏe đối với anh Vũ Minh C. Nhưng anh C có đơn từ chối giám định với lý do thương tích của mình phù hợp với kết luận giám định pháp y về thương tích số 087/2021/ThT-GĐPY ngày 19/11/2021.

Tại bản kết luận giám định số: 876/KLGĐ-PC09-SH ngày 25/11/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận:

“ - Mẫu ký hiệu M1 thuộc nhóm O.

- Nhóm máu của Nguyễn Quốc Đt (ký hiệu M2) là nhóm máu O.

- Nhóm máu của Vũ Minh Cn (ký hiệu M3) là nhóm máu O.

Chất dị vật mầu nâu đỏ thu tại hiện trường (ký hiệu M1) là máu người, thuộc nhóm máu O, trùng với nhóm máu của Nguyễn Quốc Đ và Vũ Minh C ” .

Tại bản kết luận giám định số 109/KLGĐ-PC09-SH ngày 05/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận:

“ - Nhóm máu của Vũ Minh C là nhóm máu O.

- Không tìm thấy dấu vết máu người trên con dao gửi giám định (kí hiệu A1)” .

+ Tại bản kết luận giám định số 212/KL-KTHS-KTSĐT ngày 04/3/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận:

“ - Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong tệp tin video lưu trữ trong USB gửi giám định.

- Sao lưu tệp tin video gửi giám định sang đĩa DVD” .

* Vật chứng thu giữ trong quá trình điều tra vụ án còn lại gồm:

+ 01 dao bấm bằng kim loại, màu xám, loại dao gấp, chiều dài khi gập dao lại dài 13,1cm, chiều dài khi mở phần lưỡi dao dài 22,8 cm. Phần lưỡi dao dài 11cm, chỗ rộng nhất 2,1cm.

+ 01 đôi giày thể thao màu trắng - đen, nhãn hiệu NIKE.

+ 01 quần vải màu đen - trắng; 01 áo khoác màu đen - trắng (dạng áo phao), tại ngực áo bên phải có 01 vết rách xuyên KT(2,3x2)cm.

+ 01 áo vải màu đen - trắng dạng áo dài tay bị rách hoàn toàn không xác định được. Phần ngực áo có viền màu trắng và có chữ “GIVENCHY”. Tại vị trí phần ngực áo màu trắng có 01 vết rách KT(2,7x0,5) cm, và bám dính dị vật màu nâu đỏ dạng loang trên diện KT (31x14) cm.

+ 01 phong bì niêm phong mẫu vật hoàn trả sau giám định bên trong có 01 (một) que tăm bông 01 đầu thấm chất dị vật màu nâu.

Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình đã ra quyết định chuyển vật chứng nêu trên đến Cục thi hành án dân sự tỉnh Ninh Binh để xử lý theo quy định của pháp luật.

* Về trách nhiệm dân sự:

Gia đình bị cáo Nguyễn Quốc Đ đã bồi thường khắc phục hậu quả số tiền 100.000.000 đồng cho bị hại là anh Vũ Minh C. Anh Vũ Minh C và gia đình có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Nguyễn Quốc Đ không có yêu cầu đề nghị gì khác.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra, các bị cáo Nguyễn Quốc Đ, Đinh Lê Hoàng M và Lê Văn Đ1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Riêng bị cáo Nguyễn Văn C không thừa nhận hành vi phạm tội, tuy nhiên quá trình điều tra có đủ tài liệu, chứng cứ, chứng minh hành vi phạm tội của C như đã nêu trên.

Tại bản cáo trạng số 13/CT-VKS ngày 05 tháng 7 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình đã truy tố Nguyễn Quốc Đ ®Ó xÐt xö vÒ téi: “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Nguyễn Văn C, Đinh Lê Hoàng M, Lê Văn Đ bị truy tố về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 318 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình giữ nguyên quan điểm truy tố như Bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc Đ phạm tội: “Giết người”; các bị cáo Nguyễn Văn C, Đinh Lê Hoàng M, Lê Văn Đ1 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 57; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Quốc Đ;

Căn cứ khoản 1 Điều 318; điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn C.

Căn cứ khoản 1 Điều 318; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đinh Lê Hoàng M và Lê Văn Đ1.

Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc Đ từ 11 đến 12 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 14/11/2021.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C từ 6 đến 12 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Xử phạt bị cáo Đinh Lê Hoàng Minh từ 6 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 24 tháng kể từ ngày tuyên án.

Xử phạt bị cáo Lê Văn Đ1 từ 6 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 24 tháng kể từ ngày tuyên án.

Về trách nhiệm Dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả của gia đình bị cáo Nguyễn Quốc Đ cho bị hại số tiền 100.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 01 dao bấm bằng kim loại; 01 đôi giày thể thao màu trắng- đen; 01 quần vải màu đen - trắng; 01 áo khoác màu đen - trắng; 01 áo vải màu đen - trắng dạng áo dài tay; 01 phong bì niêm phong mẫu vật hoàn trả sau giám định bên trong có 01 que tăm bông.

Các bị cáo Nguyễn Quốc Đ, Nguyễn Văn C, Đinh Lê Hoàng M, Lê Văn Đ1 phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Quốc Đ phát biểu quan điểm bào chữa cho bị cáo, nhất trí với tội danh và điều luật như bản cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Đ; tuy nhiên quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo Đ đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo và gia đình đã bồi thường cho anh Vũ Minh C số tiền 100.000.000 đồng, anh C và gia đình có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có ông nội là người có công cách mạng được tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhì, Huy hiệu năm mươi lăm năm tuổi Đảng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ dưới mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình đã đề nghị, để bị cáo Nguyễn Quốc Đ yên tâm cải tạo sớm trở về với gia đình và xã hội.

Lời nói sau cùng của các bị cáo Nguyễn Quốc Đ, Đinh Lê Hoàng M, Lê Văn Đ1, các bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Lời nói sau cùng của bị cáo Nguyễn Văn C: Xin nhận hành vi phạm tội của mình là dùng chân đá vào người anh C, như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình đã nêu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Quốc Đ, Lê Văn Đ1, Đinh Lê Hoàng M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và đồng phạm như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Riêng bị cáo Nguyễn Văn C, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo C đều khẳng định mình không tham gia đánh anh Vũ Minh C vào ngày 13/11/2021 mà bị cáo chỉ là người can ngăn. Nhưng qua lời khai tại phiên tòa của bị cáo Đ, Đ1, M, người làm chứng anh Phan Tiến L đều khẳng định bị cáo C đã dùng chân đá vào người anh Vũ Minh C. Ngoài ra lời khai của bị cáo Nguyễn Quốc Đ (tại BL306, 307, 357- 372); bị cáo Đinh Lê Hoàng M có bản tự khai tại cơ quan điều tra (BL409- 413) và các Biên bản lấy lời khai (BL424, 428, 429, 431, 434, 436); bị cáo Lê Văn Đ1 viết bản tự khai tại cơ quan điều tra (BL481, 484, 487) cùng các Biên bản lời khai (BL491, 498, 499, 502, 504, 516, 517); các Biên bản nhận dạng của Đinh Lê Hoàng M, Lê Văn Đ1, Phan Tiến L (BL 445, 526, 724). Lời khai của những người làm chứng: Anh Phan Tiến L (BL708, 717), anh Vũ Xuân P (BL729, 743-747) tất cả đều khẳng định có nhìn thấy Nguyễn Văn C xông vào dùng chân đá vào người anh Vũ Minh C. Căn cứ lời khai của các bị cáo Đ, M, Đ1 và người làm chứng anh P, anh L; Biên bản nhận dạng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ khẳng định: Trong khi sảy ra đánh nhau giữa Đ và C vào ngày 13/11/2021 thì bị cáo Nguyễn Văn C đã có hành vi dùng chân đá vào người anh Vũ Minh C.

Lời khai của các bị cáo Đ, C, M, Đ1 được chứng minh bằng lời khai của người bị hại, lời khai của những người làm chứng; cùng vật chứng thu giữ tại hiện trường nơi xảy ra vụ án; biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường và tại các bản kết luận giám định: Bản kết luận giám định pháp y thương tích số 087/2021/ThT - GĐPY ngày 19/7/2021 của Trung tâm pháp y, Sở Y tế tỉnh Ninh Bình; Bản kết luận giám định số 876/KLGĐ-PC09-SH ngày 25/11/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình; Bản kết luận giám định số 109/KLGĐ-PC09-SH ngày 05/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình; Bản kết luận giám định số 212/KL-KTHS-KTSĐT ngày 04/3/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sơ kết luận: Do mâu thuẫn cá nhân trong chuyện tình yêu nam, nữ, mặc dù chưa từng gặp mặt nhưng Nguyễn Quốc Đ và Vũ Minh C đã dùng điện thoại hẹn gặp nhau để giải quyết mâu thuẫn. Khoảng 21h ngày 13/11/2021, tại khu vực đường Quốc lộ 10, thôn P, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình, khi anh C đi xe mô tô đến, Nguyễn Quốc Đ dùng tay phải rút dao bấm đã chuẩn bị từ trước đâm 02 nhát vào ngực phải và xương ức của anh C xuyên qua gan, xuyên qua thận phải là vùng trọng yếu của cơ thể. Khi anh C ngã ra đường thì Lê Văn Đ1, Đinh Lê Hoàng M và Nguyễn Văn C cùng lúc đi đến lao vào dùng chân đá vào vùng lưng và đầu anh C, sau đó Đ tiếp tục cầm dao đâm 07 nhát vào vùng chân trái, đùi trái và mông trái của anh C. Hậu quả anh C bị tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 62%, anh C không chết là nằm ngoài ý thức chủ quan của Nguyễn Quốc Đ.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Quốc Đ đã phạm vào tội “Giết người” thuộc trường hợp “Có tính chất côn đồ”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự.

Điều 123. Tội giết người

1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) …

n) Có tính chất côn đồ.

…

Hành vi của các bị cáo: Nguyễn Văn C, Đinh Lê Hoàng M và Lê Văn Đ1 do không thống nhất, bàn bạc với Đ từ trước về việc đánh anh C. Khi xảy ra đánh nhau thì M, Đ, Nguyễn Văn C không dùng hung khí đánh anh C mà dùng chân đá anh C không gây thương tích cho anh C. Do vậy hành vi của Nguyễn Văn C, Đinh Lê Hoàng M và Lê Văn Đ1 không đồng phạm với Đ về tội giết người. Nhưng sự việc xảy ra ở khu vực đường quốc lộ, nơi có nhiều người qua lại, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an, an toàn nơi công cộng, hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ, do đó hành vi của các bị cáo: Nguyễn Văn C, Đinh Lê Hoàng M và Lê Văn Đ1, đã phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại khoản 1 Điều 318 của Bộ luật Hình sự.

Điều 318. Tội gây rối trật tự công cộng

1. Người nào gây rối trật tự công cộng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

………….

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình đã truy tố đối với các bị cáo Nguyễn Quốc Đ về tội “Giết người”; các bị cáo Nguyễn Văn C, Lê Văn Đ1 và Đinh Lê Hoàng M về tội “Gây rối trật tự công cộng” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Quốc Đ là đặc biệt nghiêm trọng, đã xâm phạm đến quyền sống là một trong những quyền cơ bản nhất của con người được pháp luật bảo vệ. Xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ quan hệ yêu đương nam nữ bị cáo đã dùng dao bấm đâm nhiều nhát vào người anh C. Hành vi của bị cáo có tính chất côn đồ, xảy ra tại đường giao thông, nơi có đông người qua lại, hành vi đó đã gây tác động xấu đến trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương và gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Căn cứ vào tính chất, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc Đ nghiêm minh trước pháp luật.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cần xem xét đến tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo để quyết định hình phạt cho phù hợp.

Bị cáo Đ không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Bị cáo Đ có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo và gia đình đã bồi thường xong số tiền 100.000.000 đồng cho người bị hại; bị hại anh C đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; mặt khác sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện đến Công an huyện Y để đầu thú; bị cáo có ông nội là người có công với cách mạng được tăng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhì, Huy hiệu 55 năm tuổi Đảng, đây các là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Từ những căn cứ trên Hội đồng xét xử xét thấy cần phải buộc bị cáo cách ly xã hội một thời gian nhất định đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo và góp phần phòng ngừa chung cho xã hội. Bị cáo đã dùng dao đâm nhiều nhát vào người anh C, nhưng anh C không chết là nằm ngoài ý thức chủ quan của bị cáo nên thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt được áp dụng quy định tại Điều 15; khoản 3 Điều 57 của Bộ luật Hình sự để xét xử bị cáo. Xét bị cáo nhân thân chưa có tiền án, tiền sự; khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người mới bước qua tuổi 18 chưa được một tháng, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự do đó cần áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự để xử phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là thể hiện sự khoan hồng của pháp luật và tạo điều kiện cho bị cáo yên tâm cải tạo sớm trở về với gia đình và xã hội.

Hành vi của Nguyễn Văn C, Đinh Lê Hoàng M và Lê Văn Đ1, được thực hiện tại đoạn đường Quốc lộ 10 thuộc xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình là nơi công cộng, có đông người qua lại, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an, an toàn nơi công cộng, gây bức xúc, tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân, do đó cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật để giáo dục, cải tạo các bị cáo và góp phần phòng ngừa chung.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cần xem xét đến tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của từng bị cáo để quyết định hình phạt cho phù hợp.

- Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, đều có nhân thân tốt.

- Đối với Nguyễn Văn C có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là: Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Cương đều không thừa nhận hành vi phạm tội của mình, khai báo quanh co, gây khó khăn cho hoạt động điều tra, truy tố. Tại lời nói sau cùng thì bị cáo Nguyễn Văn C đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình là dùng chân đá vào người anh C, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự (mức độ có hạn), Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo khỏi xã hội để giáo dục, cải tạo bị cáo là phù hợp với những quy định của pháp luật.

- Đối với các bị cáo Đinh Lê Hoàng M, Lê Văn Đ có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; hoàn cảnh gia đình các bị cáo khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo M, Đ1 có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân tốt, khi thực hiện hành vi phạm tội mới bước qua tuổi 18 chưa lâu, do đó không nhất thiết phải cách ly các bị cáo khỏi xã hội mà để các bị cáo được cải tạo, giáo dục tại địa phương là thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của gia đình bị cáo Nguyễn Quốc Đ đã bồi thường xong cho người bị hại 100.000.000 đồng. Bị hại anh Vũ Minh C đã nhận đủ tiền, không yêu cầu bồi thường gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết về bồi thường dân sự.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Hội đồng xét xử thấy các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 dao bấm bằng kim loại; 01 đôi giày thể thao màu trắng đen; 01 quần vải màu đen trắng; 01 áo khoác màu đen trắng; 01 phong bì niêm phong mẫu vật hoàn trả sau giám định bên trong có 01 que tăm bông, đây là vật chứng thu giữ của vụ án không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Quốc Đ, Nguyễn Văn C, Đinh Lê Hoàng M và Lê Văn Đ bị kết án có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật .

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm n khoản 1 Điều 123; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; khoản 3 Điều 57; khoản 1 Điều 54; Điều 47 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Quốc Đ;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 318; các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn C;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 318; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Đinh Lê Hoàng M và Lê Văn Đ1;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố:

- Bị cáo Nguyễn Quốc Đ phạm tội “Giết người”(chưa đạt).

- Các bị cáo Nguyễn Văn C, Đinh Lê Hoàng M và Lê Văn Đ phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

2. Xử phạt:

2.1. Bị cáo Nguyễn Quốc Đ 10 (mười) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 14/11/2021.

2.2. Bị cáo Nguyễn Văn C 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

2.3. Bị cáo Đinh Lê Hoàng M 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng kể từ ngày tuyên án.

2.4. Bị cáo Lê Văn Đ1 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng kể từ ngày tuyên án.

Giao các bị cáo Đinh Lê Hoàng M và Lê Văn Đ1 cho Ủy ban nhân dân xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 dao bấm bằng kim loại; 01 đôi giày thể thao màu trắng đen; 01 quần vải màu đen trắng; 01 áo khoác màu đen trắng; 01 phong bì niêm phong mẫu vật hoàn trả sau giám định bên trong có 01 que tăm bông.

(Chi tiết vật chứng như biên bản bàn giao vật chứng ngày 06/7/2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình với Cục Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình).

4. Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Quốc Đ, Nguyễn Văn C, Đinh Lê Hoàng M và Lê Văn Đ1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai, các bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định của điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ