vanban.org

Bản án 25/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tri Tôn , tỉnh An Giang Tuyên án 27/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Ngô Văn C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Ngô Văn C 11 (mười một) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính kể từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 23/3/2022 (ngày hai mươi ba, tháng ba, năm hai nghìn không trăm hai mươi hai). 01 áo thun ngắn tay có dính vết màu nâu; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "NGô Văn Chủ gây thương thích dẫn đến chết người - Bị truy tố tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Ngô Văn C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 25/2022/HS-ST
Ngày: 27/9/2022.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TT - TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Huệ.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hồ Văn Dũng;

2. Bà Châu Thanh Nguyên.

- Thư ký phiên tòa: Ông Chau Chanh Đô Ra – Thư ký Tòa án nhân dân huyện TT.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TT tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thái Hòa - Kiểm sát Viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TT, tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 21/2022/TLST-HS ngày 14 tháng 9 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2022/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2022, đối với bị cáo:

Ngô Văn Ch, sinh năm: 1971, tại huyện CP, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Ấp BC 2, xã BM, huyện CP, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm nghề tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn M (chết) và bà Trần Thị Ú (chết); vợ: Chung sống như vợ chồng với Nguyễn Thị G; con: Không.

Tiền sự: Không.

Tiền án:

+ Ngày 03/02/1998, bị Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xử phạt 05 năm tù về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Chấp hành án tại Trại giam kênh 7 tỉnh Kiên Giang đến ngày 26/02/2002 thì thực hiện hành vi “Trốn khỏi nơi giam”;

+ Ngày 01/11/2002, bị Tòa án nhân dân huyện AM, tỉnh Kiên Giang xử phạt 02 năm tù về tội: “Trốn khỏi nơi giam” và tổng hợp hình phạt 03 năm 03 tháng 05 ngày tù. Chấp hành xong ngày 06/12/2005.

+ Ngày 27/3/2008, bị Tòa án nhân dân huyện TS, tỉnh An Giang xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Chấp hành xong ngày 06/01/2010;

+ Ngày 23/6/2011, bị Tòa án nhân dân huyện CP, tỉnh An Giang xử phạt 04 năm tù về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Chấp hành xong ngày 20/4/2015.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 23/3/2022 đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Những người tham gia tố tụng:

2.1. Bị hại: Ông Huỳnh Văn B, sinh năm: 1959; địa chỉ cư trú: Ấp BC 2, xã BM, huyện CP, tỉnh An Giang (chết);

Đại diện hợp pháp cho bị hại: Anh Huỳnh Văn Ph, sinh năm: 1973; địa chỉ: Ấp BĐ, xã BM, huyện CP, tỉnh An Giang.

2.2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Lê Thị H, sinh năm: 1955; địa chỉ cư trú: Khóm ST, thị trấn CT, huyện TT, tỉnh An Giang.

2.3. Người làm chứng:

2.3.1. Nguyễn Thị H, sinh năm: 1971;

2.3.2. Lê Thị Hạnh D, sinh năm: 1988;

2.3.3. Nguyễn Thị Bé T, sinh năm: 1982;

2.3.4. Huỳnh Văn Ngọc E, sinh năm: 19642.3.5. Ngô Minh K, sinh năm: 1980.

2.3.6. Ngô Văn Đ, sinh năm: 1955;

2.3.7. Nguyễn Thị M, sinh năm: 1966.

Tại phiên tòa, các ông bà: Huỳnh Văn P, Nguyễn Thị M cùng có mặt. Những người còn lại vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 00 ngày 17/6/2016, Ngô Văn C, thuê xe honda đầu của một người đàn ông, không biết họ tên từ huyện CP đến nhà bà Lê Thị H, C thấy Huỳnh Văn B, đang ở bên trong nhà H nên tức giận bỏ đi và đến khu vực chợ CT mua 01 lít rượu uống. Sau khi uống rượu xong, Chủ nhớ đến việc H và B sống chung với nhau nên ghen tức và mua 01 cây dao Thái Lan dài 27 cm (cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại màu trắng) của một người đàn ông, không biết họ tên, giấu vào thắt lưng phía trước bên trái đến tìm B, H nói chuyện.

Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, C đi từ cửa sau vào nhà H rồi lượm 01 cục đá ném 01 cái trúng bụng làm H té ngã, Huy tri hô “Chủ đến rồi ông B ơi” rồi H chạy ra ngoài trốn còn C đuổi theo B đến hành lang dãy phòng trọ, C và B đứng đối diện cách nhau khoảng 0,5 mét, B tay trái cầm dao mác dài khoảng 40 cm (cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại màu đen) chém C 02 cái, C giơ tay phải đỡ trúng vào cẳng tay phải còn tay phải của B cầm xà beng dài khoảng 70cm (bằng kim loại màu đen) đánh C 01 cái, C giơ tay phải đỡ trúng khuỷu tay phải. Khi này, C và B nắm tay giằng co từ hành lang phòng trọ số 4 (tính từ trước ra sau) đến vị trí để đống sắt đối diện vách phòng trọ số 1, 2, C dùng tay phải nắm cổ tay phải của B đang cầm xà beng hướng xuống đất và dùng chân phải đạp làm rớt xà beng khỏi tay B, tay trái C nắm và xoay cổ tay trái đang cầm dao của B chém 02 cái trúng vùng trán và tiếp tục lấy dao từ thắt lưng, cầm trên tay phải chém 01 cái trúng cánh tay trái của B. Sau đó, C thấy không còn lưỡi dao nên buông bỏ cán dao, tay trái C cầm tay trái B, tay phải nắm cổ bên trái B quật B từ phải sang trái làm B té ngã vào đống sắt, thấy B chảy nhiều máu nên C bỏ trốn còn B được H và người dân đưa đến Trung tâm y tế huyện TT cấp cứu nhưng đã chết.

Theo Bản giám định pháp y số 174/2016/BKTT ngày 18/6/2016 của Trung tâm pháp y tỉnh An Giang, xác nhận nguyên nhân Huỳnh Văn B chết là do gãy trật cột sống cổ C2, C3.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường lúc 13 giờ 10 ngày 18/6/2016 của Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh An Giang, thể hiện:

Nhà bà H có kích thước (9x14,3) m, được chia làm 03 khu vực. Khám hiện trường từ ngoài vào, từ phải qua trái thấy:

- Khu vực bên phải là tiệm Internet, có cửa chính ra vào, loại cửa kéo bằng sắt;

- Khu vực bên trái là khu vực phòng trọ, bên phải có lối đi ra vào và đi thẳng ra sau;

- Khu vực phía sau là khu vực sinh hoạt của bà Huy có cửa ra vào thông với cửa ra vào của tiệm Internet.

Tại khu vực sinh hoạt của bà H.

- Cặp bên trái cửa ra vào phát hiện áo thun ngắn tay màu xanh có dính nhiều vết màu nâu (nghi máu), mặt trước tay áo có vết thủng vãi dài 1,7cm; tại vị trí trên nền xi măng có nhiều vết màu nâu dạng mảng, lượng nhiều đã khô (đánh dấu vị trí 1);

- Cách vị trí (1), 03m về hướng lối đi thông dãy nhà trọ, trên nền xi măng có nhiều vết màu nâu, 01 chiếc dép nhựa màu đen (đánh dấu vị trí 2) và 01 cục đá kích thước (15x10,5) cm có dính nhiều vết màu nâu nằm cách vị trí (2) 1,1m, cách vị trí (1) 2,6m;

- Giữa vị trí (1) và (2) có nhiều vết màu nâu dạng mảng, lượng nhiều đã khô trên lối đi và trên vách tường.

- Trên lối đi khu vực phòng trọ, cách vị trí (2) 9,2m về hướng cửa ra vào phòng trọ, phát hiện đôi dép nhựa màu đen – vàng và 01 lưỡi dao sắt nhọn bằng kim loại màu trắng đã mất phần cán có nhiều vết màu nâu, lưỡi dao dài 15,5cm rộng 2cm, (đánh dấu vị trí 3);

- Từ vị (3) đến vị trí (2) có nhiều vết màu nâu; cách vị (3) 2,1m hướng cửa ra vào, trên nền xi măng phát hiện cán dao bằng gỗ dài 11,5cm rộng 2cm;

- Cách vị trí (1) 3,8m về phía sàn nước (hướng nam) có thùng nhựa màu xanh, trên thùng và nền xi măng có nhiều vết màu nâu, (được đánh vị trí 4);

- Cách vị trí (4) 4,0m về phía khu vực bếp (phía tây) cặp vách sau có nhiều vết màu nâu dạng nhỏ giọt trên cục đá (được đánh vị trí 5);

- Cách vị trí (5) về lối mòn bên phải và cách nhà bếp 1,4m phát hiện nhiều vết dạng nhỏ giọt trên lá cỏ (đánh dấu vị trí 6).

Vật chứng thu được gồm:

- 01 áo thun ngắn tay có dính vết màu nâu;

- 01 chiếc dép nhựa màu đen có dính vết màu nâu;

- 01 cục đá kích thước (15x10,5) cm có dính vết màu nâu;

- 01 tui giấy, ký hiệu “vết màu nâu tại vị trí 3” chứa: 01 mãnh gạc y tế dính vết màu nâu, 01 cán dao bằng gỗ dài 11,5cm, 01 lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 15,5cm.

- Thu dấu vết màu nâu tại các vị trí (1), (2), (3), (4), (5), (6).

Theo Kết luận giám định số 232/KLGĐ-PC54 ngày 15/7/2016 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh An Giang, xác định: Vết màu nâu tại các vị trí (2), (3), (4), (5), (6), và vết màu nâu trên áo thun ngắn tay màu xanh, trên chiếc dép nhựa màu đen và trên cục đá là máu người, thuộc nhóm máu A. Máu của nạn nhân Huỳnh Văn B thuộc nhóm máu A.

Ngày 03/10/2016 Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện TT ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Ngô Văn C về hành vi: “Cố ý gây thương tích”.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận như nội dung vụ án. Ngoài ra, bị cáo còn khai: Việc trên đường từ chợ Cô Tô đến nhà bà H, tình cờ thấy xe bán dao, mác… dạo, bị cáo mua cây dao Thái Lan là mục đích phòng thân và nếu có bị ông B đâm thì bị cáo đâm lại, tại nhà bà H bị cáo có ném cục đá về phía ông B, nhưng trúng bụng bà H và trong lúc giằng co với ông B chỉ bị cáo với ông B. Sau khi gây án, bị cáo lội bộ về xã TTu rồi theo đường ruộng về cầu sắt 13 đến nhà trọ (không nhớ tên) ngủ. Đến sáng hôm sau khoảng 05 giờ, bị cáo có điện thoại cho bà Huy và 02 người gây cải nhau, sau đó bị cáo ra đón xe buýt đi Long Xuyên để đón xe khách đi Vũng Tàu. Trên đường đi, bị cáo có điện thoại cho đứa cháu tên Ngô Minh K và chị dâu tên M, nói có đánh và đâm ông B máu ra quá nhiều rồi sợ nên bỏ trốn; anh K, bà M động viên ra đầu thú, nhưng bị cáo không nghe và bỏ máy. Vệc ông B có dùng dao và xà beng bằng kim loại chém, đánh gây tổn thương cho bị cáo với tỷ lệ 03% bị cáo không yêu cầu.

Anh Huỳnh Văn P - đại diện hợp pháp cho bị hại khai: Cha mẹ anh (Huỳnh Văn B, Võ Thị Đ) chung sống nhau có 05 người con, sau đó không hòa thuận, cha thì có nghề mộc và hồ nên thường xuyên đi làm xa, đến khoảng tháng 12/2015 mẹ anh chết, ông có về làm đám thì đi tiếp. Nghe nói ông có chung sống với người khác nhưng không biết tên và nhà ở đâu. Đến khoảng 20 giờ 30 ngày 17/6/2016 khi đang nằm ngủ tại nhà thì anh Lắm (bà con chú bác) đến báo cha anh bị người khác đâm chết và xác đang nằm tại Bệnh viện TT, anh cùng gia đình đến nơi thì đúng sự thật. Sau khi cơ quan chức năng khám nghiệm, anh cùng gia đình đưa xác cha về an táng. Nay anh đại diện cho tất cả anh em trong gia đình yêu cầu xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Riêng về trách nhiệm dân sự, anh yêu cầu bị cáo phải bồi tổng thiệt hại bằng 30.000.000 đồng;

Bà Lê Thị H trình bày: Bà chung sống với ông B từ năm 2012 nhưng đến năm 2014 hai người cải vã rồi ông B bỏ đi. Tháng 4/2015 bà quen biết và chung sống với ông C đến tháng 9/2015 cũng cải vã và chia tay nhau. Đến khoảng ngày 25 tết 2016 ông B về chung sống lại với bà thì vào khoảng 19 giời 00 ngày 17/6/2016 bất ngờ ông C đi từ cửa sau nhà đến đứng trước cửa phòng ném cục đá vào người bà trúng vùng bụng, bà đau ngã người ra phía sau, lúc này C đến hướng bà thì trên tay có cầm dao Thái Lan, bà sợ nên la lên: “Trời, trời, trời ông C đến rồi ông B ơi”, sau đó bà chạy ra hướng cửa chính, khi chạy đến cửa bà nghe bên dãy nhà trọ ở vị trí phòng 2, ông B la lên 01 tiếng: “ Trời ơi” và khi chạy ra cửa chính bà la lớn: “Làng xóm ơi, ăn cướp vào nhà tôi giết ông B rồi, ông C đâm ông B”, vừa la bà chạy sang nhà ông Năm Chùa, qua nhà chị vợ ông Năm Chùa và điện thoại báo Công an xã CT. Khi Công an đến bà hỏi ông B: “Thấy chính xác thằng C đâm ông không” ông B trả lời: “ Nó chứ ai”. Sau đó ông C còn nhiều lần điện thoại đe dọa bà. Đối với thương tích bị cáo gây ra cho bà, bà không yêu cầu.

Các ông bà: Ngô Minh K, Ngô Văn Đ, Nguyễn Thị M cùng cho biết: Vào các ngày 18,19/6/2016 qua vận động đầu thù của Công an, các ông bà có điện thoại cho Ngô Văn C thì Chủ thừa nhận có đâm và đánh ông Huỳnh Văn B.

Các ông bà Lê Thị Hạnh D, Ngô Thị H, Nguyễn Thị Bé Tá, Huỳnh Văn NE cùng cho biết: Khoảng 19 giờ ngày 17/6/2016, T, H, D nghe H kêu cứu nên đi ra ngoài thì thấy H đang trốn phía sau nhà T và H cho biết “chồng tôi đâm nhau” rồi H trình báo Công an xã CT. Riêng E thì được H điện thoại di động cho biết “C dùng dao đâm B và đá ném H”.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Kiểm sát viên, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định, biên bản khám nghiệm hiện trường và vật chứng thu giữ.

Cáo trạng số 24/CT-VKSTT – HS ngày 14 tháng 9 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TT, truy tố bị cáo Ngô Văn C về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 4 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm: Giữ nguyên quyết định truy tố. Sau khi đánh giá tính chất vụ án, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX):

Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 134, điền s khoản 1 khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Ngô Văn C từ 09 (chín) năm đến 11 (mười một) năm tù.

Về vật chứng của vụ án: Đề nghị áp dụng các Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tuyên tịch thu tiêu hủy:

- 01 áo thun ngắn tay có dính vết màu nâu;

- 01 chiếc dép nhựa màu đen có dính vết màu nâu;

- 01 cục đá kích thước (15x10,5) cm có dính vết màu nâu;

- 01 túi giấy, ký hiệu “vết màu nâu tại vị trí 3” chứa: 01 mãnh gạc y tế dính vết màu nâu, 01 cán dao bằng gỗ dài 11,5cm, 01 lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 15,5cm.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị áp dụng các Điều 584, 590 Bộ luật dân sự.

Công nhận thỏa thuận giữa bị cáo và đại diện bị hại về bồi thường tổng thiệt hại bằng 30.000.000 đồng.

Bị cáo thống nhất với luận tội của Kiểm sát viên và không tranh luận.

Lời nói sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện TT, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện TT, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 18/6/2016, Kết luận giám định pháp y số 174/2016/BKTT ngày 18/6/20162016 của Trung tâm pháp y tỉnh An Giang và các tài liệu, chứng cứ khác thu giữ trong hồ sơ, đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Ngô Văn C có hành vi dùng hung khí là dao mác và dao Thái Lan chém, đâm vào vùng trán, tay trái và dùng tay ôm quật Huỳnh Văn B ngã vào đống sắt, làm cho ông B bị gãy trật cột sống cổ dẫn đến tử vong. Do đó, Cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội: “ Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 4 Điều 134 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội.

Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng của Huỳnh Văn B mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, chỉ vì quan hệ nam nữ dẫn đến ghen tuông để rồi thực hiện hành vi phạm tội. Tính mạng, sức khỏe của con người là vốn quý được pháp luật tôn trọng, bảo vệ; bị cáo là người đã trưởng thành có đầy đủ nhận thức về điều đó. Lẽ ra, khi biết bà H chung sống lại với ông B, bị cáo bình tĩnh tìm cách xử lý thích hợp hơn trong mối quan hệ giữa 03 người để tránh hậu quả đáng tiếc xảy ra, nhưng bị cáo không làm điều đó mà chọn cách dùng vũ lực để giải quyết vấn đề, điều này cho thấy bản tính hung hăng xem thường pháp luật của bị cáo. Vì vậy, HĐXX cần phải áp dụng một chế tài nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt có ích, đồng thời cũng nhằm răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.

. Về tính tiết tăng nặng: Bị cáo đã từng có 04 tiền án. Cụ thể:

Năm 1998, bị Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xử phạt 05 năm tù về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, năm 2022 bị Tòa án nhân dân huyện AB, tỉnh Kiên Giang xử phạt 02 năm tù về tội: “Trốn khỏi nơi giam” tổng hợp hình phạt 03 năm 03 tháng 05 ngày tù, năm 2008 bị Tòa án nhân dân huyện TS, tỉnh An Giang xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và năm 2011 bị Tòa án nhân dân huyện CP, tỉnh An Giang xử phạt 04 năm tù về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Với mỗi lần chấp hành xong hình phạt không lâu sau thì bị cáo lại phạm tội mới, nên lần phạm tội này thuộc tính tiết tăng nặng “Tái phạm nguy hiểm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; hơn nữa sau khi gây thương tích cho ông B thì bị cáo bỏ trốn, mặc dù Cơ quan điều tra và gia đình đứng ra vận động đầu thú, nhưng bị cáo bất chấp mãi đến ngày 23/3/2022 bị cáo bị bắt khi đang bị truy nã, điều đó cho thấy thái độ ăn năn hối cải của bị cáo là không có, do đó HĐXX cần nghiêm khắc hơn khi lượng hình.

. Về tính tiết giảm nhẹ: Giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo. Ngoài ra, bị cáo học lực thấp nên nhận thức về pháp luật còn hạn chế, đại diện hợp pháp cho bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, theo điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Về trách nhiệm dân sự: Thống nhất với đề nghị của Kiểm sát viên là công nhận thỏa thuận bồi thường thiệt hại giữa bị cáo với đại diện bị hại bằng số tiền 30.000.000 đồng.

. Về vật chứng của vụ án: Xét đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ.

Bởi: 01 áo thun ngắn tay có dính vết màu nâu; 01 chiếc dép nhựa màu đen có dính vết màu nâu; 01 cục đá kích thước (15x10,5) cm có dính vết màu nâu; 01 túi giấy, ký hiệu “vết màu nâu tại vị trí 3” chứa: 01 mãnh gạc y tế dính vết màu nâu, 01 cán dao bằng gỗ dài 11,5cm, 01 lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 15,5cm. Là những vật chứng không có giá trị, nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với thương tích của bà Lê Thị , do bị cáo gây ra cũng như ông B gây thương tích cho bị cáo; bà H và bị cáo không yêu cầu xử lý, nên HĐXX không xem xét.

. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Ngô Văn C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ vào điểm a khoản 4 Điều 134; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Ngô Văn C 11 (mười một) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính kể từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 23/3/2022 (ngày hai mươi ba, tháng ba, năm hai nghìn không trăm hai mươi hai).

Căn cứ vào các Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy:

- 01 áo thun ngắn tay có dính vết màu nâu;

- 01 chiếc dép nhựa màu đen có dính vết màu nâu;

- 01 cục đá kích thước (15x10,5) cm có dính vết màu nâu;

- 01 túi giấy, ký hiệu “vết màu nâu tại vị trí 3” chứa: 01 mãnh gạc y tế dính vết màu nâu, 01 cán dao bằng gỗ dài 11,5cm, 01 lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 15,5cm.

(Vật tuyên tịch thu và tiêu hủy theo biên bản giao nhận ngày 16/9/2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an huyện TT với Chi cục thi hành án dân sự huyện TT).

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào các Điều 584, 590 Bộ luật dân sự.

Công nhận thỏa thuận bồi thường thiệt hại giữa bị cáo và đại diện hợp pháp bị hại. Cụ thể: Bị cáo bồi thường cho bị hại 30.000.000 đồng.

Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Ngô Văn C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo và các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (27/9/2022), đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ