vanban.org

Bản án 25/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên Tuyên án 06/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lý Thị M phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

Hình phạt: Xử phạt bị cáo Lý Thị M 27 (hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, ngày 08/9/2021. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lý Thị M phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý". - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lý Thị M phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 25/2022/HS-ST
Ngày 06-01-2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N

TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Huấn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Khoàng Văn Sơn

Ông Hồ Chử Dung

- Thư ký phiên toà: Ông Lò Văn Hƣơng, Thư ký Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện VKSND huyện N, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Phùng Việt Hùng, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên.

Trong ngày 06 tháng 01 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 32/2021/TLST-HS ngày 21 tháng 12 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2021/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:

Lý Thị M, sinh năm 1960 tại huyện M, tỉnh Yên Bái.

Tên gọi khác: Không.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Bản N 1, xã N, huyện N, tỉnh Điện Biên.

Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: Không biết chữ.

Dân tộc: Mông; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.

Con ông: Lý Nủ P, đã chết.

Con bà: Hờ Thị C, đã chết.

Bị cáo có chồng Hạng Sú T, sinh năm 1960 và 10 con, con nhỏ nhất sinh năm 1985, con nhỏ nhất sinh năm 2005.

Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân: Bị cáo không có án tích, không bị xử phạt vi phạm hành chính.

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 08/9/2021, tạm giam ngày 11/9/2021, có mặt.

* Ngƣời phiên dịch cho bị cáo Lý Thị M: Ông Hồ A D, sinh năm 1984, địa chỉ bản H, xã N, huyện N, tỉnh Điện Biên, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 08/9/2021, Lý Thị M mang theo 550.000 đồng từ nhà ở bản N 1, xã N, huyện N, tỉnh Điện Biên đến khu vực Mốc 56 biên giới Việt Nam – Lào thuộc bản P, xã N, huyện N để mua ma túy sử dụng cho bản thân. Đến nơi, bị cáo gặp và mua của một người đàn ông bị cáo không rõ lai lịch được 01 gói Thuốc phiện, 01 gói ma túy tổng hợp và 01 gói Heroine với giá 550.000 đồng. Mua được ma túy, bị cáo cất giấu vào túi áo ngực bên trái đang mặc và đi về nhà. Hồi 18 giờ 10 phút cùng ngày, khi bị cáo đang đi về đến khu vực bản N 3, xã N, huyện N thì bị tổ công tác Công an xã N và Đồn Biên phòng N phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Cáo trạng số 01/CT-VKSNP ngày 20/12/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện N truy tố bị cáo Lý Thị M về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Tuyên phạt bị cáo Lý Thị M từ 27 đến 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự về xử lý vật chứng của vụ án.

Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Miễn án phí HSST cho bị cáo.

Bị cáo nhất trí với bản cáo trạng, bản luận tội của Viện Kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về chứng cứ phạm tội:

Biên bản bắt người phạm tội quả tang hồi 18 giờ 20 phút ngày 08/9/2021 bút lục 01, 02 chứng minh bị cáo Lý Thị M bị bắt khi đang tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác Công an xã N phối hợp với Đồn Biên phòng N đã thu giữ của bị cáo một gói ni lông màu trắng, mở bên trong có 03 gói ni lông màu trắng: một gói có chứa chất nhựa dẻo màu nâu đen có mùi hắc nghi là thuốc phiện, một gói có 05 viên nén màu hồng nghi là ma túy tổng hợp, một gói chứa chất bột màu trắng đục dạng nén nghi là Heroine.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng hồi 16 giờ 30 phút ngày 09/9/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N bút lục số 28, 29, khối lượng vật chứng thu giữ khi bắt quả tang bị cáo Lý Thị M là 25 gam chất nhựa dẻo màu nâu đen nghi là thuốc phiện, trích mẫu gửi giám định 2,5 gam; 0,44 gam viên nén màu hồng gửi toàn bộ đi giám định; 0,65 gam chất bột màu trắng đục dạng nén nghi là Heroine, trích mẫu gửi giám định 0,25 gam.

Kết luận giám định số 1065/GĐ-PC09 ngày 17/9/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên bút lục số 34 đã kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong vật chứng thu giữ của Lý Thị M gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine; mẫu các viên nén màu hồng thu giữ của Lý Thị M gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine; mẫu chất dẻo màu nâu đen thu giữ của Lý Thị M gửi giám định là chất ma túy, loại Thuốc phiện. Không hoàn lại đối tượng giám định.

Kết quả tranh tụng tại phiên tòa cho thấy bị cáo Lý Thị M có tội. Bị cáo đã tàng trữ trái phép chất ma túy với mục đích sử dụng cho bản thân. Chứng cứ xác định bị cáo đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định tại Điều 249 của Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo được thực hiện bằng lỗi cố ý trực tiếp và đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, làm mất trật tự trị an, an toàn xã hội. Viện kiểm sát nhân dân huyện N truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Lý Thị M có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình.

Về tính chất mức độ phạm tội:

Khối lượng ma túy bị thu giữ của Lý Thị M là 0,65 gam Heroine, 0,44 gam Methamphetamine và 25 gam Thuốc phiện. Theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 về việc tính tổng khối lượng các chất ma túy thì tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng của Heroine, Methamphetamine và Thuốc phiện so với mức tối thiểu đối với từng chất được quy định tại khoản 2 của Điều 249 Bộ luật hình sự là 26,8%. Đối chiếu với quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự thì tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng của Heroine, Methamphetamine và Thuốc phiện là dưới 100%. Tính chất mức độ phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự có khung hình phạt từ 01 năm đến 05 năm tù.

Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo sinh ra và lớn lên ở huyện M, tỉnh Yên Bái, năm 1993, bị cáo cùng gia đình chuyển về làm ăn sinh sống ở bản N 1, xã N, huyện N, tỉnh Điện Biên. Tuổi đời của bị cáo đã cao nhưng do nghiện chất ma túy nhiều năm mà không từ bỏ được. Đây là nguyên nhân chính bị cáo thực hiện hành vi phạm tội.

Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Đối chiếu các quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự thì bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Nhận định trên đây là cơ sở để chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Hội đồng xét xử xem xét và áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi quyết định hình phạt cho bị cáo nhưng vẫn phải nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo cải tạo thành người có ích cho gia đình và xã hội.

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Song xét điều kiện hoàn cảnh của bị cáo khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương, tài sản trong gia đình không có gì giá trị, bị cáo không giữ chức vụ gì trong xã hội, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với Lý Thị M.

Về vật chứng: Vật chứng của vụ án là 0,44 gam Methamphetamine đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N gửi toàn bộ đi giám định không hoàn lại do vậy Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.

Vật chứng là 25 gam Thuốc phiện đã trích 2,5 gam gửi đi giám định không hoàn lại mẫu vật, còn lại 22,5 gam; 0,65 gam Heroine, đã trích 0,25 gam gửi đi giám định không hoàn lại mẫu vật, còn lại 0,4 gam. Toàn bộ số vật chứng còn lại tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của Chính phủ do vậy Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí HSST cho bị cáo theo quy định tại Điều 136/BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Các vấn đề khác: Nguồn gốc số ma túy bị thu giữ bị cáo khai mua của một người đàn ông không rõ lai lịch. Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N không có đủ cơ sở để làm rõ đối tượng. Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

1. Tuyên bố: Bị cáo Lý Thị M phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Lý Thị M 27 (hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, ngày 08/9/2021.

3. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 25 gam Thuốc phiện, đã trích mẫu gửi giám định 2,5 gam, còn lại 22,5 gam; 0,65 gam Heroine, đã trích 0,25 gam gửi giám định không hoàn lại, vật chứng còn lại 0,4 gam cùng toàn bộ giấy ni lông màu trắng và phong bì niêm phong cũ của Công an xã N. Vật chứng được niêm phong trong một phong bì công văn Công an huyện N có đặc điểm như biên bản giao, nhận vật chứng hồi 16 giờ 00 phút ngày 20/12/2021 giữa Công an huyện N và Chi cục Thi hành án dân sự huyện N.

3. Án phí: Áp dụng Điều 136/BLTTHS; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Miễn án phí HSST cho bị cáo.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo Lý Thị M được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 06/01/2022.

Cỡ chữ