- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Minh Đ phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh Đ phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH KIÊN GIANG Bản án số: 25/2022/HS-ST. Ngày: 11/7/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT – TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Hoàng Văn Phúc
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Vũ Đ Kiểu
Ông Đỗ Văn Dân
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Quốc Tững- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Nam - Kiểm sát viên.
Trong ngày 11 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 04/2022/TLST-HS ngày 20 tháng 01năm 2022; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2022/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 6 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Minh Đ, sinh năm 1991
Nơi cư trú: Tổ x, ấp H, xã M, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.
Quốc ti ̣ch: Viê ̣t Nam ; Dân tô ̣c : Kinh; Tôn giáo :Không; Trình độ văn hóa : 9/12; Nghề nghiê ̣p: Buôn bán; Con ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1965 và bà Lê Thị Tuyết A, sinh năm 1958; Anh (chị) em ruô ̣t: gồm 03 ngườ i, lớn nhất sinh năm 1983, bị cáo là ngườ i con nhỏ nhất trong gia đinh; Bị cáo chưa có vợ con.
̀
Tiền án; Tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt tạm giam theo Quyết đi ̣nh truy na kể tữ
̀ ngày 02/6/2022 cho đến nay.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
Bị hại: Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1988.(Vắng mặt)
Địa chỉ: ấp H, xã M, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang
(Hiê ̣n đang chấp hà nh á n tại Trại giam Đi ̣nh Thà nh- tỉnh An Giang)
Người làm chứng: Hà Văn H, sinh năm 1987 (Vắng mặt)
Địa chỉ: ấp T, xã V, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Minh Đ là người thường xuyên sử dụng chất ma túy (ma túy đá) nên quen biết Nguyễn Văn D và Hà Văn H . Khoảng 12 giờ ngày 08/02/2021 Nguyễn Văn D gọi điện thoại rồi đến nhà trọ Hg thuê để hỏi chỗ mua ma túy , sau đó Hà Văn H điê ̣n thoa ̣i cho Nguyễn Minh Đ (Trướ c đây H đa tữ ̀ ng đưa tiền cho Đ mua ma túy về sử du ̣ng chung ) hỏi có ma túy không để H giớ i thiê ̣u có ngườ i mua “mô ̣t trăm số” (tương đương 10 gam), rồi H cho D số điê ̣n thoa ̣i của Đ để tự liên hê ̣. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày D điê ̣n thoa ̣i cho Nguyễn Minh Đ hỏi “mô ̣t trăm số ma túy” giá bao nhiêu thì được Nguyễn Minh Đ trả lời 5.500.000 đồng và D đồng ý mua . Do thấy D còn nợ mình số tiền 4.300.000 đồng đa đõ ̀i nhiều lần nhưng D không trả , nên khi nghe D nhờ mua ma túy thi Đ nảy sinh ý
̀ đi ̣nh dùng phèn chua giả làm chất ma túy để giao cho D, nhằm chiếm đoa ̣t tiền của D. Nguyễn Minh Đ lấy phèn chua ở thể rắn đâ ̣p vỡ thành nhiều ha ̣t nhỏ, bỏ vào hai bịch ny lông màu trắng kích thước 4,6cm x 4,7cm và 4,5cm x 4,4cm rồi dùng quẹt lử a hơ kin la ̣i, sau đó bỏ 02 bịch ny lông vào khẩu trang y tế màu xanh cuộn lại.
́
Sau khi chuẩn bi ̣ xong Đ từ nhà đi bô ̣ ra cất giấu că ̣p mé đườ ng bên trái tinh
̉ lô ̣ Sóc Xoài – Ba Thê thuô ̣c tổ x, ấp H, xã M, huyê ̣n Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang và đứ ng đợi D, khoảng 10 phút sau D chạy xe mô tô đến đưa cho Đ 5.500.000 đồng, sau khi nhâ ̣n tiền Đ chỉ chỗ cất giấu 02 bịch phèn chua đã chuẩn bị sẵn cho D (D nghĩ là ma túy đá ); D đi đến lấy lên bỏ vào túi áo rồi chạy xe về phòng trọ của D thuê ở thị trấn Óc Eo, huyê ̣n Thoa ̣i Sơn, tỉnh An Giang. Khi đến phòng tro ̣, D dùng kéo cắt bọc ny lông ra nếm thử thì phát hiện không phải ma túy mà là phèn chua nên D điê ̣n thoa ̣i cho Đ đòi la ̣i tiền nhưng không liên la ̣c được vớ i Đ. Khoảng 16 giờ Nguyễn Văn D đến nhà Nguyễn Minh Đ đòi la ̣i tiền nhưng Đ không trả nên D tứ c giâ ̣n đâ ̣p phá đồ đa ̣c rồi đến Công an xa M tỗ
́ giác hành vi của Nguyễn Minh Đ và giao nộp 02 bịch ny lông màu trắng bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng mà Đ bán cho D. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyê ̣n Hòn Đất đa tiến hã
̀nh lâ ̣p biên bản niêm phong ta ̣m giữ tang vâ ̣t.
Về vâ ̣t chứ ng của vu ̣ án : Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyê ̣n Hòn Đất đa thu giữ:̃
-01 bịch nylon trong suốt kích thước (4,6x4,7) cm được hàn kín hai đầu bên trong có chứa nhiều hạt tinh thể rắn màu trắng hình dạng không đồng nhất, được niên phong gửi đi giám định;
-01 bịch nylon trong suốt kích thước (4,4x4,4) cm được hàn kín hai đầu bên trong có chứa nhiều hạt tinh thể rắn màu trắng hình dạng không đồng nhất, được niên phong gửi đi giám định;
-01 điện thoại di động cảm ứng màu xám, nhãn hiệu VSMART, hiệu máy STAR3, số IMEL 359869100268973-359869100268981 (điện thoại đã qua sử dụng) thu giữ của Nguyễn Văn D;
-01 điện thoại di động cảm ứng màu vàng nhạt, hiệu SAMSUNG GALAXY J7, số máy SM-j710GW (điện thoại đã qua sử dụng) thu giữ của Nguyễn Minh Đ;
-01 khẩu trang y tế màu xanh;
-Tiền việt nam 1.000.000 đồng thu giữ của Nguyễn Minh Đ.
Tại kết luận giám định số 179/KL-KTHS ngày 14/02/2021 của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Kiên Giang kết luận: Nhiều hạt tinh thể rắn màu trắng hình dạng không đồng nhất bên trong 02(hai) bịch nylon trong suốt, hàn kín được niêm phong gởi giám định không phải là chất ma túy, khối lượng mẫu gửi giám định là 11.3106gam.
Hoàn lại đối tượng giám định : Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 10,9749 gam và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 (mô ̣t) phong bì có ký hiệu; Vụ số 179/2021
Tại bản cáo trạng số 07/CT –VKSHĐ, ngày 17/01/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang đa truy tố bị cáo Nguyễn Minh Đ về tộĩ “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng đa truy tỗ
́ và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 174; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bô ̣ luâ ̣t hình sự năm 2015 (sử a đổi bổ sung năm 2017) xử pha ̣t bị cáo Nguyễn Minh Đ từ 09 tháng đến 12 tháng tù.
Đề nghi ̣ Hô ̣i đồng xét xử không áp du ̣ng hinh pha ̣t bổ sung theo quy đi ̣nh ta ̣i
̀ khoản 5 Điều 174 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự do bị cáo kinh tế thuộc diê ̣n kho khăn.
̀
́
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra (BL 68-69; 70-71) bị hại anh Nguyễn Văn D yêu cầu bị cáo Nguyễn Minh Đ trả lại số tiền đã chiếm đoạt là 5.500.000 đồng. Tuy nhiên do số tiền này trực tiếp liên quan đến hành vi phạm tô ̣i, hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi pha ̣m pháp luâ ̣t nên bi ̣ ha ̣i có lỗi , mă ̣c dù bị hại mua phải ma túy giả nhưng ngoài ý thức chủ quan của bị hại nên đề nghị Hô ̣i đồng xét xử không xem xét.
Về biê ̣n pháp tư p háp: Đề nghi ̣ Hô ̣i đồng xét xử tịch thu tiêu hủy vật chứng không có giá tri ̣ sử du ̣ng gồm : - Mẫu vâ ̣t còn la ̣i sau giám đi ̣nh có khối lượng 10,9749 gam và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 phong bi có ký hiê ̣u:
̀ Vụ 179/2021; - 01 khẩu trang y tế màu xanh (đã qua sử dụng)
Đề nghi ̣ ti ̣ch thu sung vào công quy nhã
̀ nướ c : - 01(mô ̣t) điện thoại di động cảm ứng màu vàng nhạt, hiệu SAMSUNG GALAXY J7, số máy SM-J710GW (điện thoại đã qua sử dụng) là công vụ phương tiện phạm tội c ủa bi ̣ cáo Nguyễn Minh Đ; - 01 (Mô ̣t) điện thoại di động cảm ứng màu xám, nhãn hiệu VSMART, hiệu máy STAR3, số IMEL 359869100268973-359869100268981 (điện thoại đã qua sử dụng) đây là tài sản của bi ̣ ha ̣i Nguyễn Văn D dùng để liên lạc mua ma túy của bị cáo Nguyễn Minh Đ, trực tiếp liên quan đến hành vi pha ̣m tô ̣i
Đối với số t iền 5.500.000 đồng mà bi ̣ cáo Nguyễn Minh Đ chiếm đoa ̣t của anh Nguyễn Văn D đề nghị Tịch thu sung vào công quỹ nhà nước , được đối trừ 1.000.000 đồng đa thu giữ
̃ được , số tiền còn la ̣i 4.500.000 đồng đề nghi ̣ Hô ̣i đồng xét xử truy thu buô ̣c bi ̣ cáo Nguyễn Minh Đ phải tiếp tục nộp.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố được công bố tại phiên tòa, không có ý kiến tranh luâ ̣n về lờ i luâ ̣n tô ̣i của đa ̣i diê ̣n Viê ̣n kiểm sát nhân dân huyê ̣n Hòn Đất , tỉnh Kiên Giang.
Lời nói sau cùng của bị cáo Nguyễn Minh Đ trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án: Bị cáo biết mình là sai trái và vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự; các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ. Bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng do đó đều hợp pha.́p
Bị hại anh Nguyễn Văn D đang chấp hành án hinh pha ̣t tù ta ̣i Tra ̣i Gian Đi ̣nh
̀ Thành về tội tàng trữ trái pháp chất ma túy, có đơn xin xét xử vắng mă ̣t. Việc vắng mặt trên không ảnh hưởng đến việc xét xử, nên Tòa án xét xử vắng mặt bị hại theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về hành vi truy tố và tội danh:
Tại phiên tòa cũng như quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Minh Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình, lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng; Biên bản tiếp nhâ ̣n nguồn tin về tô ̣i pha ̣m do Công an xa M lâ ̣̃
p hồi 18 giờ ngày 08/02/2021; Biên bản khám nghiệm hiện trường vụ án và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 08/02/2021 tại ấp H, xã M, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang, sau khi biết Nguyễn Văn D có nhu cầu mua ma túy dạng đá để sử dụng, Nguyễn Minh Đ dùng thủ đoạn lấy phèn chua ở thể rắn màu trắng đâ ̣p thành nhiều ha ̣t nhỏ , sau đó bỏ vào gói giống gói đựng ma túy và ngụy trang giao di ̣ch tinh vi nhằm để Nguyễn Văn D tin tưở ng là chất ma túy đá, chiếm đoa ̣t Nguyễn văn D số tiền 5.500.000 đồng.
Từ căn cứ trên xác định bị cáo Nguyễn Minh Đ phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy đi ̣nh ta ̣i khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sử a đổi bổ sung năm 2017).
Như vậy, Cáo trạng số 07/CT –VKSHĐ, ngày 17/01/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang đa truy t ố bị cáo Nguyễn Minh Đ về tộĩ “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sử a đổi bổ sung năm 2017) và đề nghị kết tội của Kiểm sát viên theo điều khoản tương ứng nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
Về các tình tiết liên quan đến việc quyết định hình phạt:
Xét tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và lỗi: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng trật tự trị an tại địa phương, bị cáo là người trưởng thành có đủ năng lực hành vi biết việc chiếm đoạt tài sản hợp pháp của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Sau khi nhâ ̣n Quyết đi ̣nh đưa vu ̣ án ra xét xử của Tòa án thì bị cáo bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã tại tỉnh Bình Dương , điều đó chứ ng tỏ bi ̣ cáo không ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, viê ̣c bỏ trốn gây cản trở hoạt động xét xử của Tòa án.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt mới phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Thành khẩn khai báo về hành vi pha ̣m tô ̣i của minh , đây là những tinh tiết giảm nhe ̣ được quy định tại điểm i,s
̀
̀
khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 được ap du ̣ng
́ để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Từ những nhận định trên, xét về tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả của hành vi phạm tội gây ra, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo nhằm đảm bảo sự nghiêm minh cũng như khoan hồng của pháp luật, qua đó cũng đảm bảo tinh răn đe phòng
́ ngừa tô ̣i pha ̣m chung.
Về biê ̣n pháp tư pháp : áp dụng Điều 46 và Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm2017; Điều 106 Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng hinh sự.
̀
- Mẫu vâ ̣t còn la ̣i sau giám đi ̣nh có khối lượng 10,9749 gam và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 phong bi có ký hiê ̣u: Vụ 179/2021; - 01 khẩu trang
̀
y tế màu xanh (đã qua sử dụng). Đây là công cu ̣ pha ̣m tô ̣i không có giá tri ̣ sử du ̣ ng nên ti ̣ch thu tiêu hủy.
- 01(mô ̣t) điện thoại di động cảm ứng màu vàng nhạt, hiệu SAMSUNG GALAXY J7, số máy SM-J710GW (điện thoại đã qua sử dụng) là công cụ phương tiê ̣n pha ̣m tô ̣i c ủa bi ̣ cáo Nguyễn Minh Đ có giá trị sử d ụng nên tịch thu s ung vào ngân sách nhà nước.
- 01 (Mô ̣t) điện thoại di động cảm ứng màu xám, nhãn hiệu VSMART, hiệu máy STAR3, số IMEL 359869100268973-359869100268981 (điện thoại đã qua sử dụng) đây là tài sản của bi ̣ ha ̣i Nguyễn Văn D dùng để liên lạc mua ma túy của bị cáo Nguyễn Minh Đ, trực tiếp liê n quan đến hành vi pha ̣m tô ̣i nên ti ̣ch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- Đối với số tiền 5.500.000 đồng mà bi ̣ cáo Nguyễn Minh Đ chiếm đoa ̣t của anh Nguyễn Văn D, do bị hại có lỗi trong viê ̣c để cho ngườ i pha ̣m tô ̣i chiếm đoa ̣t sử du ̣ng nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nướ c, được đối trừ 1.000.000 đồng đa ̃ thu giữ được, số tiền còn la ̣i 4.500.000 đồng truy thu buô ̣c bi ̣ cáo Nguyễn Minh Đ phải tiếp tục nộp.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra (BL 68-69; 70-71) bị hại anh Nguyễn Văn D yêu cầu bị cáo Nguyễn Minh Đ bồi thườ ng số tiền đã chiếm đoạt là 5.500.000 đồng, tại đơn xin xét xử vắng mặt ngày 05/7/2022 anh Nguyễn Văn D đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật . Hô ̣i đồng xét xử nhâ ̣n thấy: Viê ̣c mua bán trái phép chất ma túy bi ̣ nhà nướ c nghiêm cấm nên hành vi mua ma túy của anh Nguyễn Văn D là vi phạm phá p luâ ̣t, bị cáo Nguyễn Minh Đ bán ma túy giả nhưng ngoài ý thức chủ quan của bị hại vì bị hại nghĩ đó là chất ma túy . Mặc dù hành vi của bị hại không cấu thành tô ̣i pha ̣m nhưng số tiền 5.500.000 đồng mà Nguyễn Minh Đ chiếm đoa ̣t được hoàn toàn có lỗi của bi ̣ ha ̣i , số tiền chiếm đoa ̣t được ti ̣ch thu sung vào ngân sách nhà nướ c nên anh Nguyễn Văn D phải chịu thiê ̣t ha ̣i do lỗi minh gây ra nên không được bồi thườ ng theo quy đi ̣nh ta ̣i khoản 4
̀ Điều 585 Bô ̣ luâ ̣t dân sự năm 2015.
Xét đề nghị của Đại diện viện kiểm sát về tội danh và điều luật áp dụng là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh Đ phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
1. Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh Đ 12 (Mườ i hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 02/6/2022.
Không áp du ̣ng hinh pha ̣t bổ sung đối vớ i bi ̣ cáo Nguyễn Minh Đ.
̀
2. Về biê ̣n pháp tư pháp : áp dụng Điều 46 và Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm2017; Điều 106 Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng hinh sự.
̀
Tịch thu tiêu hủy : - Mẫu vâ ̣t còn la ̣i sau giám đi ̣nh có khối lượng 10,9749 gam và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong
01 phong bi có ký hiê ̣u : Vụ
̀ 179/2021; - 01(mô ̣t) khẩu trang y tế màu xanh (đã qua sử dụng).
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước : - 01(mô ̣t) điện thoại di động cảm ứng màu vàng nhạt, hiệu SAMSUNG GALAXY J7, số máy SM-J710GW (điện thoại đã qua sử dụng); - 01 (một) điện thoại di động cảm ứng màu xám, nhãn hiệu VSMART, hiệu máy STAR3, số IMEL 359869100268973-359869100268981 (điện thoại đã qua sử dụng);- Buô ̣c bi ̣ cáo Nguyễn Minh Đ nô ̣p la ̣i số tiền thu lợi do phạm tội mà có là 5.500.000đồng (Năm triê ̣u năm trăm nghìn đồng) được đối trừ 1.000.000 đồng đa thu giữ
̃ được , số tiền còn la ̣i 4.500.000 đồng (Bốn triê ̣u năm trăm nghin đồng ) tiếp tu ̣c truy thu buô ̣c bi ̣ cáo Nguyễn Minh Đ tiếp tu ̣c nô ̣p để
̀ sung vào ngân sách nhà nướ c.
Số tiền 1.000.000 đồng (một triê ̣u đồng ) đang tạm nộp và o tà i khoản số
3941.0.1019593.00000 của Phòng tài chính kế hoạch huyện Hòn Đất
, các vật chứ ng cò n lại do Chi cục thi hà nh á n dân sự huyê ̣n Hò n Đất quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/01/2022 giữa Công an huyê ̣n Hò n Đất và Chi cục thi hành án dân sự huyện Hòn Đất.
3. Về trách nhiê ̣m dân sự : Áp dụng Điều 47 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự; khoản 4 Điều
̀ 585 Bô ̣ luâ ̣t dân sự năm 2015.
Không chấp nhâ ̣n yêu cầu của anh Nguyễn Văn D yêu cầu bị cáo Nguyễn Minh Đ bồi thườ ng số tiền 5.500.000 đồng (Năm triê ̣u năm trăm nghin đồng)
̀
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 điều 135, khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Nguyễn Minh Đ phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Báo cho các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang -VKSND tỉnh Kiên Giang -VKSND huyện Hòn Đất -Cơ quan CSĐT CA huyện Hòn Đất - Nhà tạm giữ CA huyện Hòn Đất - Chi cục THA DS huyện Hòn Đất - Sở Tư pháp - Bị cáo; bị hại - Lưu hồ sơ vụ án; | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Văn Phúc |