vanban.org

Bản án 25/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh Tuyên án 02/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tr ng T phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tr ng T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện đi chấp hành án hoặc từ ngày bắt bị cáo Nguyễn Tr ng T chấp hành án. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "tội chống người thi hành công vụ bc Nguyễn trọng Tâm - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tr ng T phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẦU NGANG
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2022/HS-ST.
Ngày 19/7/2022.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU NGANG TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Thanh Lâm.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Thanh Chúc.

Ông Nguyễn Hoàng Nam.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Đầy, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Hứa Văn Biên - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 32/2022/TLST-HS, ngày 21 tháng 6 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2022/QĐXXST-HS, ngày 06 tháng 7 năm 2022 đối với:

Bị cáo Nguyễn Trọng T, sinh ngày 19/7/1993, nơi sinh tại Trà Vinh. Nơi cư trú: Khóm IV, thị trấn M, huyện C, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Hớt tóc; trình độ h c vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tr ng T, sinh năm 1969 và bà Trần Thị G, sinh năm 1971; vợ tên Trương Thị Phượng E, sinh năm 1994; con có 01 người sinh năm 2019. Tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 13/5/2022 đến nay. Bị cáo có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Anh Phạm Công T, sinh năm 1992. Địa chỉ: Ấp N, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Có mặt.

- Anh Lê Văn S, sinh năm 1987. Địa chỉ: Khóm M, thị trấn C, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Có mặt.

- Anh Phan Võ Hồng T, sinh năm 1989. Địa chỉ: Khóm I, thị trấn M, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Có mặt.

- Anh Phạm Thành P, sinh năm 1987. Địa chỉ: Khóm II, thị trấn M, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Có mặt.

Người làm chứng:

- Ông Nguyễn Kim Đ, sinh năm 1961. Có mặt.

- Chị Trương Thị Phượng E, sinh năm 1994. Có mặt.

- Anh Phạm Quốc T, sinh năm 1986. Vắng mặt không có lý do.

Cùng địa chỉ: Khóm IV, thị trấn M, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

- Anh Lê Vương V, sinh năm 1994. Địa chỉ: Khóm II, thị trấn M, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Có mặt.

- Anh Nguyễn Minh T, sinh năm 1987. Địa chỉ: Ấp N, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Vắng mặt không có lý do.

- Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1993. Địa chỉ: Ấp N, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Vắng mặt không có lý do.

Vật chứng cần đưa ra xem xét tại phiên tòa gồm: 01 điện thoại di động màu trắng hiệu VIVO, loại màn hình cảm ứng, có khung viền bằng kim loại màu trắng; 01 mắt kính, loại kính cận, có khung bằng nhựa màu đen, tròng kính không màu, tròng kính bên trái bị vỡ rời khỏi kính, khung kính phía trên bên trái bị gãy.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 27/02/2022, bị cáo Nguyễn Tr ng T tổ chức nhậu tại nhà sau thuộc khóm IV, thị trấn M, huyện C cùng với vợ tên Trương Thị Phượng E và 08 người bạn khác, trong quá trình nhậu, bị cáo sử dụng loa (loại loa kẹo kéo) để hát karaoke và hát quá 22 giờ đêm. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, Công an thị trấn M nhận được tin của người dân ngụ khóm IV, thị trấn M báo là tại nhà của bị cáo đang nhậu và hát karaoke gây tiếng ồn, làm mất an ninh trật tự tại địa phương.

Sau khi nhận được tin báo, Công an thị trấn M phân công ông Nguyễn Kim Đ là Công an viên phụ trách khóm IV, thị trấn M đến nhà bị cáo kiểm tra, nhắc nhở 02 lần và yêu cầu dừng ngay việc hát karaoke để đảm bảo an ninh trật tự, nhưng bị cáo không chấp hành. Sau đó, Công an thị trấn M tiếp tục phân công tổ công tác gồm 04 người: Đại úy Lê Văn S và Thượng úy Phạm Công T là Công an viên Thường trực thị trấn M, ông Phạm Thành P và Phan Võ Hồng T thuộc Ban chỉ huy Quân sự thị trấn M đến nhà bị cáo để giải quyết vụ việc, lực lượng thi hành công vụ tham gia giải quyết vụ việc đều mặc trang phục của ngành đúng quy định.

Đến khoảng 22 giờ 35 phút cùng ngày, tổ công tác đến nơi thì thấy bị cáo cùng những người khác còn nhậu và hát karaoke gây tiếng ồn, làm mất an ninh trật tự, lúc này ông Lê Văn S giải thích, yêu cầu bị cáo tắt nhạc và mở cửa rào cho tổ công tác vào làm việc, thấy vậy Trương Thị Phượng E tắt nhạc nhưng không mở cửa, bị cáo biết rõ lực lượng Công an đến giải quyết và xử lý hành vi hát karaoke sau 22 giờ đêm gây tiếng ồn nhưng vẫn dùng nhiều lời nói thô tục chửi xúc phạm tổ công tác. Sau nhiều lần yêu cầu thì Trương Thị Phượng E mở cửa rào, ông Lê Văn S đi vào giải thích về hành vi mở loa hát karaoke gây tiếng ồn sau 22 giờ đêm là vi phạm pháp luật và tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính, lúc này bị cáo vẫn dùng lời nói thô tục chửi tổ công tác.

Trong lúc giải quyết vụ việc, thấy bị cáo liên tục xúc phạm tổ công tác nên anh Phạm Công T dùng điện thoại di động quay lại sự việc để làm cơ sở xử lý, thấy vậy bị cáo tiếp tục chửi và dùng điện thoại di động màn hình cảm ứng, hiệu VIVO của bị cáo ném trúng vào vùng mặt của anh Phạm Công T gây xưng phù nề ở vùng cằm và làm hư hỏng một mắt kính của anh T đang đeo. Sau đó, lực lượng làm nhiệm vụ đưa bị cáo Nguyễn Tr ng T về trụ sở Công an thị trấn Mg để làm rõ hành vi vi phạm pháp luật. Vụ việc được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cầu Ngang giải quyết theo thẩm quyền.

Quá trình điều tra, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi chống người thi hành công vụ. Hành vi của bị cáo liên tục dùng lời nói thô tục chửi xúc phạm tổ công tác đang thi hành công vụ và dùng điện thoại di động ném trúng vùng mặt của anh Phạm Công T, mục đích là để cản trở tổ công tác làm nhiệm vụ quay phim ghi nhận lại sự việc vi phạm pháp luật của bị cáo và cản trở việc lập biên bản xử phạt vi phạm hành chính.

Ngày 13/5/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cầu Ngang ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị cáo Nguyễn Tr ng T về tội Chống người thi hành công vụ và áp dụng biện pháp ngăn chặn ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú phục vụ công tác điều tra.

Đối với Trương Thị Phượng E không có hành vi cản trở tổ công tác thi hành công vụ nên không có cơ sở xử lý.

Đối với anh Phạm Công T bị thương tích xưng phù nề ở vùng cằm, anh không yêu cầu giám định tỷ lệ thương tật nên không xem xét giải quyết.

- Vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra đã trả cho ông Nguyễn Tr ng T (cha bị cáo T) 01 thùng loa màu đen (loại loa kẹo kéo hát karaoke), kích thước 44 x 47 x 111 cm. Hiện còn quản lý 01 túi niêm phong, bên trong gồm: 01 điện thoại di động màu trắng hiệu VIVO, loại màn hình cảm ứng, có khung viền bằng kim loại màu trắng; 01 mắt kính, loại kính cận, có khung bằng nhựa màu đen, tròng kính không màu, tròng kính bên trái bị vỡ rời khỏi kính, khung kính phía trên bên trái bị gãy.

- Về trách nhiệm dân sự: Anh Phạm Công T yêu cầu bị cáo Nguyễn Tr ng T bồi thường chi phí điều trị 160.000 đồng và tiền mua mắt kính 780.000 đồng, tổng cộng là 940.000 đồng. Bị cáo đã bồi thường xong.

Tại bản Cáo trạng số: 22/CT-VKS-HS, ngày 20/6/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh, đã quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Tr ng T về tội “Chống người thi hành công vụ” quy định tại khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Trọng T khai nhận: Vào khoảng 22 giờ 40 phút ngày 27/02/2022, tại khóm IV, thị trấn M, huyện C, tỉnh Trà Vinh, bị cáo dùng lời nói thô tục chửi xúc phạm lực lượng thi hành công vụ của Công an thị trấn M và Ban chỉ huy Quân sự thị trấn M và dùng điện thoại di động của bị cáo hiệu VIVO, loại màn hình cảm ứng ném trúng vùng mặt của anh Phạm Công T là Công an viên thường trực đang thi hành công vụ, làm anh T bị thương tích xưng phù nề ở vùng cằm và hư hỏng một mắt kính của anh T đang đeo. Mục đích của bị cáo là để cản trở tổ công tác làm nhiệm vụ quay phim ghi nhận lại sự việc vi phạm pháp luật của bị báo và cản trở việc lập biên bản xử phạt vi phạm hành chính về hành vi hát karaoke sau 22 giờ đêm gây tiếng ồn, mất an ninh trật tự tại địa phương.

Các tờ tường trình, biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung bị cáo khai là tự nguyện, đúng sự thật, không ai ép buộc, bị cáo thống nhất nội dung bản Cáo trạng, không có ý kiến bổ sung hay khiếu nại gì về nội dung bản Cáo trạng mà thống nhất với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Tại phiên tòa anh Phạm Công T trình bày: Vào khoảng 22 giờ 30 phút, ngày 27/02/2022, Công an thị trấn M nhận được tin của người dân ngụ khóm IV, thị trấn M báo là tại nhà của bị cáo Nguyễn Tr ng T tổ chức nhậu tại nhà sau thuộc khóm IV, thị trấn M, huyện C, tỉnh Trà Vinh đang nhậu và hát karaoke gây tiếng ồn, làm mất an ninh trật tự tại địa phương. Sau khi nhận được tin báo, lãnh đạo Công an thị trấn M phân công ông Nguyễn Kim Đ là Công an viên phụ trách khóm IV, thị trấn M đến nhà bị cáo kiểm tra, ông Đ đến nhắc nhở 02 lần và yêu cầu dừng ngay việc hát karaoke để đảm bảo an ninh trật tự, nhưng bị cáo không chấp hành. Sau đó, Công an thị trấn M tiếp tục phân công tổ công tác gồm 04 người: Đại úy Lê Văn S và Thượng úy Phạm Công T là Công an viên Thường trực thị trấn M, ông Phạm Thành P và Phan Võ Hồng T thuộc Ban chỉ huy Quân sự thị trấn M đến nhà bị cáo để giải quyết vụ việc, lực lượng thi hành công vụ đều mặc trang phục của ngành đúng quy định.

Đến khoảng 22 giờ 35 phút cùng ngày, tổ công tác đến nơi thì thấy bị cáo cùng những người khác còn nhậu và hát karaoke gây tiếng ồn, mất an ninh trật tự, lúc này ông Lê Văn S giải thích, yêu cầu bị cáo tắt nhạc và mở cửa rào cho tổ công tác vào làm việc, thấy vậy Trương Thị Phượng E tắt nhạc nhưng không mở cửa, bị cáo biết rõ lực lượng Công an đến giải quyết và xử lý hành vi hát karaoke sau 22 giờ đêm gây tiếng ồn nhưng vẫn dùng nhiều lời nói thô tục chửi xúc phạm tổ công tác. Sau nhiều lần yêu cầu thì Trương Thị Phượng E mở cửa rào, ông Lê Văn S đi vào giải thích về hành vi mở loa hát karaoke gây tiếng ồn sau 22 giờ đêm là vi phạm pháp luật và tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính, lúc này bị cáo vẫn dùng lời nói thô tục chửi tổ công tác, thấy vậy anh dùng điện thoại di động quay lại sự việc để làm cơ sở xử lý thì bị cáo cầm điện thoại di động màn hình cảm ứng, ném trúng vào vùng mặt anh gây xưng phù nề ở vùng cằm và làm hư hỏng một mắt kính của anh T đang đeo. Sau đó, lực lượng làm nhiệm vụ đưa bị cáo T về Trụ sở Công an thị trấn M để làm rõ hành vi vi phạm pháp luật.

Đối với thương tích xưng phù nề ở vùng cằm, anh không yêu cầu giám định tỷ lệ thương tật, không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét. Về trách nhiệm dân sự anh yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí điều trị 160.000 đồng và tiền mua mắt kính 780.000 đồng, bị cáo đã bồi thường xong. Nay anh không yêu cầu gì thêm.

Tại phiên tòa anh Lê Văn S, anh Phan Võ Hồng T, anh Phạm Thành P trình bày: Là thống nhất lời trình bày của anh Phạm Công T và không có ý kiến gì thêm.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên ông Hứa Văn Biên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Ngang vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Tr ng T phạm tội “Chống người thi hành công vụ”, Áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Ngoài ra Kiểm sát viên còn đề nghị xử lý vật chứng và buộc bị cáo nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Trọng T nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận đã dùng lời nói thô tục chửi xúc phạm lực lượng Công an thị trấn Mỹ Long và Ban chỉ huy Quân sự thị trấn Mỹ Long và dùng điện thoại di động của bị cáo hiệu VIVO, loại màn hình cảm ứng ném trúng vùng mặt của anh Phạm Công T là Công an viên thường trực đang thi hành công vụ, mục đích để cản trở tổ công tác làm nhiệm vụ, bị cáo vi phạm pháp luật và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Tr ng T khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng mô tả, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện:

Vào khoảng 22 giờ 40 phút ngày 27/02/2022, tại phía sau nhà bị cáo ngụ tại khóm IV, thị trấn M, huyện C, tỉnh Trà Vinh, bị cáo tổ chức nhậu và hát kraraoke quá 22 giờ và được ông Nguyễn Kim Đ là Công an viên đến nhắc nhở nhiều lần nhưng bị cáo không chấp hành, khi lực lượng Công an thị trấn Mỹ Long và Ban chỉ huy Quân sự thị trấn Mỹ Long đến làm nhiệm vụ, lúc này bị cáo có hành vi dùng lời nói thô tục chửi xúc phạm lực lượng thi hành công vụ của Công an thị trấn Mỹ Long và Ban chỉ huy Quân sự thị trấn Mỹ Long và dùng điện thoại di động của bị cáo hiệu VIVO, loại màn hình cảm ứng ném trúng vùng mặt của anh Phạm Công T là Công an viên thường trực đang thi hành công vụ, làm anh T bị thương tích xưng phù nề ở vùng cằm và hư hỏng một mắt kính của anh T đang đeo. Mục đích của bị cáo là để cản trở tổ công tác làm nhiệm vụ quay phim ghi nhận lại sự việc vi phạm pháp luật của bị báo và cản trở việc lập biên bản xử phạt vi phạm hành chính về hành vi hát karaoke sau 22 giờ đêm gây tiếng ồn, mất an ninh trật tự tại địa phương. Hành vi của bị cáo đã cản trở chống người thi hành công vụ.

Từ đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Tr ng T phạm tội “Chống người thi hành công vụ” quy định tại khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thẩm tra các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử thấy rằng các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều đúng quy định pháp luật. Những người tham gia tố tụng không có khiếu nại hoặc có ý kiến nào khác phản đối các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng nên các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã cố ý xâm phạm trực tiếp đến hoạt động của Nhà nước về quản lý hành chính trong lĩnh vực thi hành nhiệm vụ. Bị cáo nhận thức và biết được anh Phạm Công T cùng tổ tuần tra đều mặc trang phục ngành Công an và Quân sự đang thi hành nhiệm vụ xử lý vụ việc tại nhà bị cáo karaoke sau 22 giờ đêm gây tiếng ồn, mất an ninh trật tự tại địa phương, khi làm việc bị cáo không chấp hành mà lại có những hành vi như dùng lời nói thô tục chửi xúc phạm lực lượng thi hành công vụ của Công an thị trấn Mỹ Long và Ban chỉ huy Quân sự thị trấn Mỹ Long và có hành vi dùng điện thoại di động của bị cáo hiệu VIVO, loại màn hình cảm ứng ném trúng vùng mặt của anh Phạm Công T là Công an viên thường trực đang thi hành công vụ, làm anh T bị thương tích xưng phù nề ở vùng cằm và hư hỏng một mắt kính của anh T đang đeo. Mục đích của bị cáo là để cản trở tổ công tác làm nhiệm vụ từ đó đã dẫn bị cáo đến con đường phạm tội.

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra vụ án cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm tr ng, bị cáo đã khắc phục xong hậu quả bồi thường thiệt hại về thương tích và tài sản cho anh T. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự sẽ được áp dụng khi quyết định hình phạt.

Xét tính chất của vụ án là ít nghiêm tr ng, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, tội phạm hoàn thành, hậu quả đã xảy ra. Theo nghị định 144/2021/NĐ-CP, ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định bị cáo không được hát karaoke sau 22 giờ đêm gây tiếng ồn lớn, làm mất an ninh trật tự tại địa phương, quá trình điều tra vụ án cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận hành vi sai trái của mình, bị cáo nhận biết anh T, anh S cùng anh P, anh T đều mặt quân phục của ngành Công an, Quân đội đến tại nhà bị cáo vào khoảng 23 giờ ngày 27/2/2022 mục đích để nhắc nhở và lập biên bản vi phạm hành chính, bởi vì trước đó ông Đức là Công an viên Khóm IV đến nhắc nhở 02 lần nhưng bị cáo không chấp hành. Khi lực lượng đến bị cáo không chấp hành theo yêu cầu của đoàn công tác, không mở cửa, còn dùng lời lẽ thô tục chửi lực lượng thi hành công vụ và dũng vũ lực ném điện thoại trúng vào anh T gây thiệt hại tài sản và sức khỏa của anh T mục đích nhằm cản trở chống đối tổ tuần tra thực hiện công vụ đến cùng là hành vi đáng lên án, làm cho nhân dân bất bình trước hành vi bị cáo xem thường pháp luật, không tôn tr ng cán bộ Công an thị trấn Mỹ Long đang thực thi công vụ để xử lý vụ việc, làm ảnh hưởng nghiêm tr ng đến hoạt động của Nhà nước về quản lý hành chính khi thi hành công vụ, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Do đó cần xử phạt bị cáo một mức hình phạt tù nhất định, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục bị cáo nói riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa anh Phạm Công T không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm. Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

. Về vật chứng và xử lý vật chứng gồm:

- Một điện thoại di động màu trắng hiệu VIVO, loại màn hình cảm ứng, có khung viền bằng kim loại màu trắng. Đây là công cụ bị cáo sử dụng vào việc thực hiện hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử quyết định tuyên tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.

- Một mắt kính, loại kính cận, có khung bằng nhựa màu đen, tròng kính không màu, tròng kính bên trái bị vỡ rời khỏi kính, khung kính phía trên bên trái bị gãy, là tài sản của anh T bị thu giữ để phục vụ công tác điều tra. Hiện mắt kính bị hỏng, anh T không nhận lại, xét thấy mắt kính không còn giá trị sử dụng. Hội đồng xét xử quyết định tuyên tịch thu tiêu hủy.

. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Tr ng T nộp 200.000 đồng.

. Xét lời luận tội của Kiểm sát viên trình bày về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt, xử lý vật chứng và án phí hình sự sơ thẩm nêu trên là có căn cứ và được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tr ng T phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.

Căn cứ khoản 1 Điều 330; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tr ng T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện đi chấp hành án hoặc từ ngày bắt bị cáo Nguyễn Tr ng T chấp hành án.

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Tuyên tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước: Một điện thoại di động màu trắng hiệu VIVO, loại màn hình cảm ứng, có khung viền bằng kim loại màu trắng.

- Tuyên tịch thu tiêu hủy: Một mắt kính, loại kính cận, có khung bằng nhựa màu đen, tròng kính không màu, tròng kính bên trái bị vỡ rời khỏi kính, khung kính phía trên bên trái bị gãy.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Tr ng T nộp 200.000 đồng.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6; các điều 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”./.

Cỡ chữ