vanban.org

Bản án 25/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Võ Thị Mỹ Ph được ly hôn với anh Nguyễn Vĩnh P.

Về quyền nuôi con chung: Giao cho chị Võ Thị Mỹ Ph được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Bích Ng (nữ) sinh ngày 09/11/2017 đến khi thành niên, lao động được. Trong thời gian chị Ph nuôi dưỡng con chung, không ai được quyền ngăn cản sự thăm nom, chăm sóc, giáo dục của cha mẹ đối với con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hon"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Võ Thị Mỹ Ph được ly hôn với anh Nguyễn Vĩnh P.
  • Căn cứ chính? Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ VĨNH CHÂU
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 31 – 5 – 2022
Về việc Ly hôn, tranh
chấp về nuôi con và cấp dưỡng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Hiếu

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Huỳnh Hoa.

2. Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Hưng, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu tham gia phiên Tòa: Bà Bùi Mỹ Tiên – Kiểm sát viên.

Trong ngày 31 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 40/2022/TLST-HNGĐ, ngày 21 tháng 02 năm 2022, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con và cấp dưỡng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 4 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 40/2022/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2022, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Võ Thị Mỹ Ph, sinh năm 1995.

Địa chỉ: Số nhà 44 ấp D, xã H, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng.

* Bị đơn: Anh Nguyễn Vĩnh P, sinh năm 1999.

Địa chỉ: Số nhà 73 ấp Ph, xã V, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

(Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 14/02/2022 cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn Võ Thị Mỹ Ph trình bày:

Vào năm 2016, chị Võ Thị Mỹ Ph kết hôn với anh Nguyễn Vĩnh P có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân xã H, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 13/01/2020. Sau cưới, hai vợ chồng sống chung với cha mẹ ruột của chị Ph ở số nhà 44 ấp D, xã H, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc và có một con chung là Nguyễn Bích Ng(nữ) sinh ngày 09/11/2017. Đến năm 2021, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, thường tranh chấp cãi vã, lâu ngày làm cho tình cảm ngày càng phai nhạt và anh P đã bỏ về nhà cha mẹ ruột của anh P tại số nhà 73 ấp Ph, xã V, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng từ cuối năm 2021 cho đến nay, không còn quan tâm, liên lạc cho vợ, con nữa.

Nay, nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không còn thương yêu nhau nữa. Nay chị Ph yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Về hôn nhân: Chị Võ Thị Mỹ Ph yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Vĩnh P.

- Về con chung: Chị Võ Thị Mỹ Ph yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn Bích Ng (nữ) sinh ngày 09/11/2017 đến đủ 18 tuổi.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Ph yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng) cho đến khi con thành niên.

- Về tài sản chung và nợ chung: Tài sản chung và nợ chung tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chứng cứ do chị Ph giao nộp là bản chính Giấy chứng nhận kết hôn, bản sao Giấy chứng minh nhân dân, bản sao Sổ hộ khẩu, bản sao Giấy khai sinh của cháu Nguyễn Bích Ng.

Đối với bị đơn Nguyễn Vĩnh P: Dù được tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, tại Thông báo thể hiện đầy đủ những tình tiết, sự kiện, tài liệu, yêu cầu khởi kiện của chị Ph nhưng anh P không phản đối, không có văn bản trình bày ý kiến và nguyện vọng của mình. Đồng thời, anh P cũng vắng mặt không có lý do trong các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Tòa án đã thông báo kết quả phiên họp trên cho anh P và đưa vụ án ra xét xử. Phiên tòa ngày 17/5/2022, bị đơn P vẫn vắng mặt và không giao nộp tài liệu, chứng cứ gì nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa, tiếp tục đưa vụ án ra xét xử theo luật định.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa nêu quan điểm: Qua thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký phiên tòa cũng như Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, chứng cứ được thu thập đầy đủ đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho các đương sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, đối với bị đơn anh Nguyễn Vĩnh P, trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa mặc dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng anh P vẫn vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Phúc theo quy định của pháp luật. Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử cho chị Ph được ly hôn với anh P, giao cho chị Ph được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, anh P phải cấp dưỡng cho con mỗi tháng là 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng), cấp dưỡng cho đến khi cháu Ng đủ 18 tuổi, lao động được; không xem xét, giải quyết về tài sản và nợ chung do không có yêu cầu; chị Ph phải chịu án phí hôn nhân và gia đình, anh P phải chịu án phí cấp dưỡng theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Chị Ph khởi kiện, yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Vĩnh P và yêu cầu tiếp tục nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con. Yêu cầu của chị Ph được pháp luật điều chỉnh tại các Điều 51, Điều 56 và Điều 58 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 (sau đây gọi là Luật hôn nhân và gia đình) thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn Nguyễn Vĩnh P đã được triệu tập hợp lệ hai lần tham gia phiên tòa, đều vắng mặt không có lý do nên phải chịu hậu quả pháp lý về việc vắng mặt của mình. Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật và Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

Về nội dung giải quyết:

Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn; bản sao Giấy chứng minh nhân dân, Sổ hộ khẩu, Giấy khai sinh của cháu Nguyễn Bích Ng cũng như việc không phản đối của anh P; đối chiếu với quy định tại điểm c khoản 1 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử khẳng định lời trình bày của chị Ph về việc kết hôn với anh P được Ủy ban nhân dân xã H, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 13/01/2020 và vợ chồng đã có 01 (một) con chung là sự thật. Vì vậy, giữa chị Ph và anh P đang tồn tại quan hệ hôn nhân hợp pháp, quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình.

Tuy nhiên, hiện nay, chị Ph và anh P không còn chung sống với nhau nữa; mạnh ai nấy sống, người nào chỉ biết bổn phận của người đó, không cùng nhau thực hiện các công việc gia đình; không quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, không biết được thông tin về tình trạng cuộc sống của nhau; không cùng nhau nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung. Như vậy, chị Ph và anh P đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng quy định tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình; vợ chồng không còn yêu thương, tôn trọng lẫn nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, cần áp dụng các Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình, giải quyết cho chị Ph được ly hôn với anh P.

Đối với quyền nuôi con chung: Tại thời điểm xét xử vụ án cháu Nguyễn Bích Ng (nữ) sinh ngày 09/11/2017 còn nhỏ, hiện đang sống với mẹ và phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần, như vậy chị Ph đã thực hiện đúng nghĩa vụ và quyền của cha mẹ quy định tại Điều 69 của Luật hôn nhân và gia đình. Về phía anh P, suốt thời gian chị Ph nuôi con, anh P đã không có sự quan tâm, nuôi dưỡng, chăm lo ở mức cần thiết đối với con chung; anh P đã vi phạm nghĩa vụ và quyền của cha mẹ như quy định của điều luật đã viện dẫn ở trên. Mặc khác, chị Ph yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung nên căn cứ vào Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, giao cho chị Ph được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Bích Ng (nữ) sinh ngày 09/11/2017 đến khi thành niên, lao động được.

Về cấp dưỡng nuôi con: Xét thấy, việc cấp dưỡng là nghĩa vụ của cha, mẹ đồng thời là để tạo điều kiện tốt hơn cho chị Ph nuôi dưỡng cháu Ng, do đó căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình, nên việc chị Ph yêu cầu anh Nguyễn Vĩnh P cấp dưỡng nuôi cháu Ng mỗi tháng là 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng) là có cơ sở chấp nhận và cần buộc anh Nguyễn Vĩnh P cấp dưỡng nuôi Ng mỗi tháng là 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng); cấp dưỡng cho đến khi cháu Ng đủ 18 tuổi, lao động được là phù hợp với quy định của pháp luật.

Nguyên đơn tiếp tục khẳng định tài sản chung và nợ chung tự thỏa thuận, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí sơ thẩm: Chị Ph phải chịu là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), theo điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa XIV, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Án phí cấp dưỡng: Anh Nguyễn Vĩnh P phải chịu là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), theo điểm đ khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa XIV.

Toàn bộ quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu là có căn cứ pháp lý và cơ sở thực tiễn như đã nhận định ở trên, Hội đồng xét xử cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đã nêu.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 và khoản 2 Điều 143, khoản 1 Điều 144, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, điểm a khoản 2 Điều 482 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 110 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào điểm a khoản 5, điểm đ khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa XIV.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Võ Thị Mỹ Ph được ly hôn với anh Nguyễn Vĩnh P.

2. Về quyền nuôi con chung: Giao cho chị Võ Thị Mỹ Ph được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Bích Ng (nữ) sinh ngày 09/11/2017 đến khi thành niên, lao động được.

Trong thời gian chị Ph nuôi dưỡng con chung, không ai được quyền ngăn cản sự thăm nom, chăm sóc, giáo dục của cha mẹ đối với con chung.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Buộc anh Nguyễn Vĩnh P cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Bích Ng (nữ) sinh ngày 09/11/2017 mỗi tháng là 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng), cấp dưỡng cho đến khi cháu Ng đủ 18 tuổi, có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình, trừ khi thuộc trường hợp chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng của anh P được thi hành ngay mặc dù bản án có thể bị kháng cáo, khiếu nại, kháng nghị, kiến nghị.

Vì quyền lợi về mọi mặt của cháu Ng, chị Ph có thể yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi nghĩa vụ và mức cấp dưỡng cho con; anh P có thể yêu cầu giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Các đương sự thực hiện quyền này theo quy định pháp luật.

4. Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn khẳng định tài sản chung và nợ chung tự thỏa thuận, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

5. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Võ Thị Mỹ Ph phải chịu là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0002309 ngày 21/02/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu, chị Ph đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Án phí cấp dưỡng: Anh Nguyễn Vĩnh P phải chịu là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).

6. Chị Võ Thị Mỹ Ph có quyền kháng cáo đối với bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án; anh Nguyễn Vĩnh P có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014.

Cỡ chữ