vanban.org

Bản án 25/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phan Thị Thủy S.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị Thủy S được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc H. Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Phan Bảo N, sinh ngày 09/02/2009 cho chị Phan Thị Thủy S trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ tuổi thành niên. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phan Thị Thủy S.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BUÔN HỒ
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2022/HNGĐ-ST
Ngày 09/8/2022
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Khanh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Phỉ Đính và bà Nguyễn Thị Quỳnh Hải.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Xiêm – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Từ Quốc Quyền - Kiểm sát viên.

Ngày 09/8/2022, tại Phòng xử án, Toà án nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 77/2022/TLST-HNGĐ ngày 21/3/2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 01/7/2022, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Phan Thị Thủy S, sinh năm 1990 – vắng mặt (có đơn đề

nghị xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn X, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

Bị đơn: Anh Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1979 – vắng mặt.

Địa chỉ: Tổ dân phố Y, phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Phan Thị Thủy S trình bày có nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Ngọc H tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau tại UBND xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Sau khi kết hôn được một thời gian thì giữa hai vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Hai vợ chồng thường xuyên xảy ra bất đồng quan điểm, xung đột lẫn nhau. Dần dần hai vợ chồng không còn tình cảm với nhau, hiện hai vợ chồng đã sống ly thân. Vì vậy chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H.

Về con chung, quá trình chung sống, hai anh chị có 01 con chung tên Nguyễn Phan Bảo N, sinh ngày 09/02/2009. Khi ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ tuổi thành niên.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị không yêu cầu anh H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản: Chị và anh H tự thỏa thuận, chưa yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Ngọc H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do, không có văn bản trình bày ý kiến

Tại phiên tòa kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.

Phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phan Thị Thủy S về quan hệ hôn nhân, về con chung, cấp dưỡng nuôi con chung và tài sản.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về khởi kiện và thụ lý vụ án: Ngày 15/3/2022, nguyên đơn nộp đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ kèm theo và văn bản từ chối lựa chọn thủ tục hòa giải tại Tòa án, ngày 16/3/2022 Tòa án thông báo nộp tiền tạm ứng án phí, ngày 21/3/2022 nguyên đơn nộp biên lai thu tạm ứng án phí và Tòa án thụ lý vụ án là đúng quy định tại Điều 191 và Điều 195 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là quan hệ pháp luật tranh chấp về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ là đúng quy định tại khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về trình tự thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Phan Thị Thủy S có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn anh Nguyễn Ngọc H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là phù hợp khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự

Về yêu cầu của đương sự:

Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa chị S và anh H là hợp pháp được pháp luật bảo vệ, đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện tại ủy ban nhân dân UBND xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk ngày 22/4/2009. Sau khi kết hôn, chị S và anh H sống hạnh phúc một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau, do bất đồng quan điểm sống, hiện nay chị S và anh H đã sống ly thân, tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng.

Kết quả xác minh tại địa phương về tình trạng hôn nhân của vợ chồng chị S và anh H thì địa phương xác định: Chị S và anh H đã sống ly thân, trước đây anh H đánh đập chị S, nên chị S nhiều lần làm đơn trình báo với chính quyền địa phương.

Như vậy, Hội đồng xét xử xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa chị S và anh H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên giải quyết cho chị S ly hôn anh H là phù hợp với khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Quá trình chung sống, chị S và anh H có 01 con chung là cháu Nguyễn Phan Bảo N, sinh ngày 09/02/2009; chị S yêu cầu được nuôi cháu N đến khi đủ tuổi thành niên. Hội đồng xét xử thấy rằng: Nguyện vọng chị S là chính đáng, bản thân cháu N cũng có nguyện vọng ở với chị S. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy, giao cho chị S trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu N cho đến khi đủ tuổi thành niên là phù hợp với Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị S không yêu cầu anh H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản: Chị S không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Xét quan điểm của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Nguyên đơn chị S phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm là phù hợp với Điều 144, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 144; Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phan Thị Thủy S.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị Thủy S được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc H.

2. Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Phan Bảo N, sinh ngày 09/02/2009 cho chị Phan Thị Thủy S trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ tuổi thành niên.

Anh Nguyễn Ngọc H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Nguyên đơn chị Phan Thị Thủy S không yêu cầu anh H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

4. Về tài sản: Nguyên đơn chị Phan Thị Thủy S không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

5. Về án phí: Nguyên đơn chị Phan Thị Thủy S phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0007273 ngày 21/3/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã B.

6. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn; bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ