vanban.org

Bản án 25/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thanh D về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

Về quan hệ hôn nhân: Tuyên xử cho bà Nguyễn Thị Thanh D ly hôn với ông Phạm Hồng T. Về con chung: Bà D trực tiếp nuôi con chung giữa bà D và ông T là Phạm Nguyễn Bảo K, sinh ngày 12/6/2014 đến đủ 18 tuổi. Ghi nhận tự nguyện của bà D về việc không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Thanh D + Phạm Hồng T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thanh D về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự Tuyên xử; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tuyên xử; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BÀ RỊA
TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 07-7-2022
V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi
con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Nguyệt

Các hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Văn Đê + Bà Nguyễn Thị Tuyết Hồng.

Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Dũng – Kiểm sát viên

Ngày 07 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số 243/2021/TLST-HNGĐ ngày 25/10/2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2022/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2022, quyết định hoãn phiên tòa số 14/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2022 giữa các đương sự:

1/ Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh D, sinh năm 1991.

Địa chỉ: Tổ 4, khu phố H, phường L, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (có mặt).

2/ Bị đơn: Ông Phạm Hồng T, sinh năm 1989.

Địa chỉ: Tổ 4, khu phố H, phường D, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai của bà Nguyễn Thị Thanh D tại phiên tòa:

Bà D và ông Phạm Hồng T tự nguyện chung sống với nhau năm 2014, đăng ký kết hôn vào ngày 17/3/2014 tại Ủy ban nhân dân phường Kim Dinh, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, giấy chứng nhận kết hôn số 12, quyển số 01/2014.

Trong 07 năm chung sống vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, cải vả, không có tiếng nói chung, không hòa hợp được. Cả hai đã cố gắng hàn gắn nhiều lần nhưng không có kết quả. Ly thân nhau gần một năm, đến nay thấy không thể tiếp tục chung sống với nhau, bà D khởi kiện ly hôn.

Về con chung: Có 01 con chung là Phạm Nguyễn Bảo K, sinh ngày 12/6/2014. Bà D yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà D xác định vợ chồng bà không có tài sản chung và nợ chung.

Ông Phạm Hồng T đã được Tòa án triệu tập làm việc nhiều lần nhưng không có mặt, không có lời khai.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:

- Về tố tụng: Thẩm phán đã thụ lý vụ án và tiến hành các bước tố tụng đúng quy định. Tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định.

-Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua nghiên cứu các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:

Về tố tụng:

Bà Nguyễn Thị Thanh D khởi kiện ly hôn ông Phạm Hồng T, ông T cư trú tại thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa.

Ông T vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai dù đã được triệu tập hợp lệ, nên Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Xét yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Thanh D, thấy rằng: Bà D và ông Phạm Hồng T là vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân phường D, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu năm 2014.

Theo lời khai của bà D thì vợ chồng ông bà sống chung không hợp nhau, thường xuyên mâu thuẫn, cải vả. Xác minh tại địa phương cũng cho biết thông tin về việc ông T và bà D không sống chung nhà khoảng một năm nay. Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết cũng đã nhiều lần triệu tập hợp lệ ông nhưng ông T không có mặt, khước từ các cơ hội hòa giải hàn gắn tình cảm. Vì vậy xác định tình cảm vợ chồng bà D và ông T đã rạn nứt trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà D đối với ông T.

Về con chung: Ông T và bà D có 01 con chung là Phạm Nguyễn Bảo K, sinh ngày 12/6/2014. Bà D yêu cầu trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay, bà D đang trực tiếp nuôi dưỡng con chung và con chung có nguyện vọng muốn sống với bà D. Vì vậy giải quyết cho bà D nuôi con là hợp lý. Bà D không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con là tự nguyện, cần ghi nhận.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà D xác định không có nên không giải quyết.

- Về án phí: Bà D phải chịu án phí ly hôn theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 56, 58; 81; 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân gia đình, Điều 147, 227 của Bộ luật tố tụng dân sự

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thanh D về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

Về quan hệ hôn nhân: Tuyên xử cho bà Nguyễn Thị Thanh D ly hôn với ông Phạm Hồng T.

Về con chung: Bà D trực tiếp nuôi con chung giữa bà D và ông T là Phạm Nguyễn Bảo K, sinh ngày 12/6/2014 đến đủ 18 tuổi. Ghi nhận tự nguyện của bà D về việc không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở. Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người không trực tiếp nuôi con nếu họ lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con chung, trong T hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thanh D phải nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0004019 ngày 19/10/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (07/7/2022) đương sự có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Đương sự vắng mặt thời hạn kháng cáo 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ