vanban.org

Bản án 25/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị N.

Về hôn nhân: Chị Lê Thị N được ly hôn với anh Đặng Văn T. Về con chung: Giao con Đặng Ngọc An N sinh ngày 04/6/2015 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng; giao con Đặng Thành P, sinh ngày 08/01/2011 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, ngh…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị Ngà - Đặng Văn Thẩm"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị N.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TUY AN
TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 29/4/2022
V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY AN - TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Phong

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Minh Đức và ông Nguyễn Đình Chương

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Hà– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên.

Ngày 29 tháng 4 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy An mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 39/2022/TLST–HNGĐ ngày 17 tháng 3 năm 2022, về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 4 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị N, sinh năm 1987. Xin xét xử vắng mặt

Địa chỉ: thôn H, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên.

- Bị đơn: Anh Đặng Văn T, sinh năm 1989. Vắng không lý do

Địa chỉ: thôn H, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn chị Lê Thị N trình bày: Chị và anh Đặng Văn T tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 26/4/2010 tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên. Sau khi kết hôn chung sống với nhau thường phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng trong quan điểm sống, vợ chồng đã không sống chung từ tháng 2/2020 đến nay. Nay tình trạng hôn nhân lâm vào trầm trọng, tình cảm không còn, hôn nhân không hạnh phúc, chị xin ly hôn với anh T.

Về con chung: Đặng Thành P, sinh ngày 08/01/2011, hiện do anh T trực tiếp nuôi dưỡng và Đặng Ngọc An N sinh ngày 04/6/2015 hiện do chị trực tiếp nuôi dưỡng, ly hôn chị xin nuôi cháu N, giao cháu P cho anh T nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Đặng Văn T: Đã được tòa án triệu tập nhiều lần nhưng vắng mặt, không có lời trình bày.

Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không hòa giải được do vắng mặt bị đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiếp tục xét xử vụ án.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị N và anh Đặng Văn Th tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 26/4/2010 tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên, đây là hôn nhân hợp pháp. Qúa trình sống chung với nhau các bên có mâu thuẫn và đã không sống chung từ tháng 2/2022 đến nay. Như vậy, mâu thuẫn của vợ chồng là không thể khắc phục, tình trạng hôn nhân lâm vào trầm trọng, đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị N được ly hôn với bị đơn anh T.

Về con chung: Đặng Thành P, sinh ngày 08/01/2011 và Đặng Ngọc An N sinh ngày 04/6/2015. Thấy rằng, cháu P hiện do anh T trực tiếp nuôi dưỡng, đã trên bảy tuổi và có nguyện vọng được ở cùng với anh T. Cháu N hiện do chị N trực tiếp nuôi dưỡng, chị N xin tiếp tục nuôi cháu N và giao cháu P cho anh T nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Để không làm sáo trộn cuộc sống và đảm bảo cho sự phát triển tốt về thể chất và tinh thần cho hai cháu, cần giao cháu P cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu N cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng; không ai phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với quy định pháp luật.

Về tài sản chung: Không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị N.

Về hôn nhân: Chị Lê Thị N được ly hôn với anh Đặng Văn T.

Về con chung: Giao con Đặng Ngọc An N sinh ngày 04/6/2015 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng; giao con Đặng Thành P, sinh ngày 08/01/2011 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung: Không giải quyết.

Về án phí: Chị Lê Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, đã nộp đủ tại Biên lai thu tiền số 0003748 ngày 17/3/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy An.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án./.

Cỡ chữ