- Tranh chấp gì? Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Chia tài sản chung khi ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Vũ Thị D và anh Trần Văn H.
- Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 466 Bộ luật Dân s
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2022/HNGĐ-PT Ngày 15 - 4 - 2022 V/v Ly hôn, chia tài sản chung, công nợ giữa chị D và anh Hậu. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành hần
ng t
h c th m g m c
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lại Văn Tùng
Các Thẩm phán:
Ông Vũ Hà Nam
Ông Nguyễn Đức Cảnh
- Thư ký h ên tòa: Ông Vũ Hoàng Giang - Th ký Tòa án nhân dân t nh Nam Định.
- Đạ d ện V ện k ểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham g a h ên toà:
Bà Mai Thị Bích Huyên - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2022 tại tr s Toà án nhân dân t nh Nam Định xét x phúc th m công khai v án th lý số 38/2021/TLPT-HNGĐ ngày 06-12-2021 về tranh chấp ly hôn, chia tài sản chung công nợ.
Do bản án Hôn nhân và gia đình s th m số 202/2021/HNGĐ-ST ngày 29-10-2021 c a Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, t nh Nam Định bị kháng cáo.
Theo Quyết định đ a v án ra xét x số 35/2022/QĐ-PT ngày 05 tháng 4 năm 2022 giữa các đ ng s :
- Nguyên đơn: Chị Vũ Thị D, sinh năm 1967; địa ch : Xóm MĐ, xã HG, huyện HH, t nh NĐ;
- Bị đơn: Anh Trần Văn H, sinh năm 1969; địa ch : Xóm MĐ, xã HG, huyện HH, t nh NĐ;
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Hoàng Tuấn A; Luật s thuộc Công ty Luật TNHH Gia Anh - Đoàn luật s thành phố Hà Nội.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Đỗ Thị Nh, sinh năm 1942; địa ch : Xóm MĐ, xã HG, huyện HH, t nh NĐ;
2. Chị Vũ Thị D, sinh năm 1969; địa ch : Xóm 3, thôn HC, xã HG, huyện HH, t nh NĐ.
3. Chị Vũ Thị D, sinh năm 1975; địa ch : Xóm Mỹ Hòa, xã Hải Giang, huyện Hải Hậu, t nh Nam Định;
4. Chị Đỗ Thị Đ, sinh năm 1969; địa ch : Xóm 11 Hải An, xã Hải An, huyện Hải Hậu, t nh Nam Định;
- Người làm chứng:
1. Anh Vũ Văn Th, sinh năm 1970; địa ch : Xóm Mỹ Hòa, xã Hải Giang, huyện Hải Hậu, t nh Nam Định;
2. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1941; địa ch : Xóm MĐ, xã HG, huyện HH, t nh NĐ;
3. Anh Trần Văn H, sinh năm 1964; địa ch : Xóm MH, xã HG, huyện HH, t nh NĐ;
4. Anh Trần Văn T, sinh năm 1967; địa ch : Xóm MH, xã HG, huyện HH, t nh NĐ.
- Người háng cáo: Anh Trần Văn H là bị đ n trong v án
Tại phiên toà phúc th m: Chị D, Luật s Tuấn A, bà Nh, chị Dâng, chị Diệu, anh Tính có mặt. Anh Hậu, chị Định, bà Tho, anh Th , anh Hà vắng mặt có lý do
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đ n kh i kiện ngày 12 tháng 4 năm 2021 và lời khai trong quá trình tố t ng, nguyên đ n chị Vũ Thị D trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị kết hôn với anh Trần Văn H ngày 18 tháng 12 năm 2006, có đăng ký tại UBND xã Hải Giang, huyện Hải Hậu. Sau khi c ới vợ chồng nhà bố mẹ chồng tại xóm Mỹ Đức, xã Hải Giang khoảng 01 tháng sau đó anh Hậu vào Miền Nam làm ăn, chị nhà chồng đến tháng 02 năm 2008 mua nhà đất riêng. Anh Hậu đi làm hàng năm ch về nhà một vài lần, chị nhà nuôi con một mình. Từ sau khi các con bị bệnh và tai nạn chết năm 2011 vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn bất hòa, từ đó anh Hậu rất ít khi về nhà, anh Hậu ch về quê khi gia đình bên chồng có công việc nh ng cũng không về nhà mà ch nhà mẹ đẻ, không liên lạc hỏi thăm đến chị. Khoảng năm 2014, chị có nghe bạn bè nói anh Hậu có quan hệ ngoại tình, chị đã hỏi và anh Hậu thừa nhận với chị có vợ và con riêng tại huyện Tánh Linh, t nh Bình Thuận nên vợ chồng mâu thuẫn căng thẳng. Chị đã từng làm đ n đến Tòa án xin ly hôn nh ng sau đó đ ợc gia đình khuyên giải nên rút đ n về. Đến nay do chị và anh Hậu không còn tình cảm nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn.
Về con chung: Chị và anh Hậu có hai con chung là cháu Trần Thu Huyền, sinh ngày 15-8-2007 và cháu Trần Thị Hiên, sinh ngày 29-5-2009. Cháu Huyền bị tai nạn chết năm 2008. Cháu Hiên bị bệnh chết năm 2011. Đến nay chị và anh Hậu không còn con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Vợ chồng có 01 căn nhà cấp 4 ba gian trên diện tích 705m2 đất, th a số 197, tờ bản đồ số 19 tại xóm Mỹ Đức, xã Hải Giang, huyện Hải Hậu; đất đã đ ợc UBND huyện Hải Hậu cấp giấy chứng nhận số AM 322930 ngày 29-4-2008 đứng tên vợ chồng. Nguồn gốc nhà đất do mua c a ông Trần Văn T năm 2008 với giá 120.000.000 đồng. Tài sản khác trên đất có 01 nhà ngang cấp 4 lợp ngói để chăn nuôi, 01 bếp, t ờng rào xây gạch trên có rào l ới B40, ngõ và sân bê tông, kè bờ ao, 01 giếng khoan Unicef. Chị đang quản lý, s d ng nhà đất. Chị nhất trí với giá nhà đất do Hội đồng định giá đã xác định.
Nguồn gốc tiền mua nhà đất là do chị có 01 cây vàng tích luỹ từ tr ớc khi kết hôn và vay thêm c a mẹ đẻ, các em ruột và em họ c a chị tổng cộng 05 cây vàng và 18.000.000 đồng. Anh Hậu có mặt nhà nh ng nói không có tiền, không đồng ý mua nh ng chị quyết tâm mua nên phải t đi vay bên ngoại, gia đình bên chồng cũng không ai cho vay. Năm 2019, do nhà xuống cấp nên chị nhờ em rể là anh Vũ Văn Th (chồng chị Diệu) đứng ra giúp s a chữa nhà với chi phí khoảng 80 triệu đồng gồm trát lại t ờng, đảo ngói, s n t ờng nhà, s n cánh c a, kè bờ ao, đổ bê tông ngõ, sân. Khi ly hôn, chị yêu cầu đ ợc s d ng toàn bộ nhà đất để có chỗ ; chị đồng ý thanh toán chênh lệch tài sản cho anh Hậu sau khi trừ nợ chung nh ng đề nghị chia cho chị phần nhiều h n vì chị có công lo kinh tế mua nhà và s a chữa nhà c a.
Về công nợ: Năm 2008 khi vợ chồng mua nhà đất c a ông Trần Văn T, chị đã vay c a mẹ đẻ chị là bà Đỗ Thị Nh 10 ch vàng 9999, vay em gái chị là chị Vũ Thị D 30 ch vàng 9999, vay em gái chị là Vũ Thị D 18.000.000 đồng và vay em họ chị là chị Đỗ Thị Đ 10 ch vàng 9999. Năm 2011 chị vay tiếp c a chị Vũ Thị D 20.000.000 đồng để chữa bệnh cho con thứ hai. Tất cả các khoản vay trên đều không có lãi, không viết giấy biên nhận vì đều là ng ời thân thích trong gia đình nên tin t ng. Anh Hậu biết rõ việc chị vay nợ bên ngoại nh ng đến nay anh Hậu chối không công nhận nợ là không thể chấp nhận đ ợc. Các khoản vay trên đều ch a trả nên chị yêu cầu anh Hậu cùng chịu trách nhiệm trả nợ chung khi giải quyết ly hôn. Đối với việc tại phiên tòa s th m chị Dâng xin rút yêu cầu đòi 30 ch vàng để chờ anh Hậu về giải quyết sau thì chị cũng nhất trí. Chị nhận trả nợ cho những ng ời trên cho thuận tiện.
* Tại bản t khai ngày 06-9-2021 và các bản t khai trong quá trình tố t ng, bị đ n anh Trần Văn H trình bày: Anh kết hôn với chị Vũ Thị D năm 2006; đến năm 2014 vợ chồng đã sinh đ ợc hai con gái nh ng đều đã chết nên từ đó anh sinh ra buồn chán, vợ chồng không còn chung sống nữa, đã ly thân từ năm 2014 đến nay. Nay anh thấy tình cảm không còn nên anh nhất trí chấm dứt hôn nhân với chị D.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung nh ng các con đều đã chết nên anh không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung: Vợ chồng có mua đ ợc th a đất thổ c trên đất có 01 nhà cấp 4, 01 nhà bếp c a ông Trần Văn T với giá 120.000.000 đồng. Khi mua nhà đất, vợ chồng có 80.000.000 đồng là tiền c a vợ chồng làm ăn tích cóp mà có, còn phải đi vay thêm 40.000.000 đồng c a ng ời thân nh ng không phải là những ng ời chị D đã khai, đến năm 2014 đã trả hết nợ. Về giá trị nhà đất c a vợ chồng do định giá ch có giá 530.700.000 đồng thì anh không nhất trí vì thấp h n nhiều so với giá thị tr ờng hiện nay.
Về công nợ: Từ năm 2014 vợ chồng đã trả xong nợ vay mua nhà đất c a ông Tính. Từ tr ớc đến nay anh ch a từng nghe chị D nói có các khoản vay c a ng ời nhà chị D nên anh không công nhận các khoản vay chị D đã nại ra.
Do ảnh h ng c a dịch bệnh Covid 19, anh không thể về nhà giải quyết việc gia đình với chị D nên anh đề nghị hòa giải theo các ph ng án: Một là, anh đ ợc s hữu, s d ng nhà đất và đồng ý thanh toán ngay cho chị D số tiền 500.000.000 đồng. Hai là, nếu chị D nhận s d ng toàn bộ nhà đất thì phải thanh toán ngay cho anh 400.000.000 đồng. Còn nếu không hòa giải đ ợc thì đề nghị Tòa án định giá lại tài sản theo đúng giá thị tr ờng hiện nay; anh yêu cầu đ ợc chia đất để sau này về quê có chỗ xây nhà .
* Tại biên bản lấy lời khai ngày 25-5-2021, các lời khai trong quá trình tố t ng và tại phiên tòa; ng ời có quyền lợi, nghĩa v liên quan bà Đỗ Thị Nh trình bày: Bà là mẹ đẻ chị D. Khi vợ chồng chị D mua nhà đất c a ông Tính năm 2008 có hỏi vay bà 10 ch vàng 9999. Bà đ a vàng cho chị D nhận, không lấy lãi, không viết biên nhận vì là mẹ con trong nhà. Nay chị D, anh Hậu ly hôn bà yêu cầu cả hai trả nợ cho bà số vàng gốc là 10 ch vàng 9999, không lấy lãi.
* Tại biên bản lấy lời khai ngày 25-5-2021, các lời khai trong quá trình tố t ng và tại phiên tòa; ng ời có quyền lợi, nghĩa v liên quan chị Vũ Thị D trình bày: Chị là em ruột chị D. Khi chị D, anh Hậu mua nhà đất năm 2008 c a ông Tính có hỏi chị vay 30 ch vàng 9999 (giá vàng khi đó là 1.700.000 đồng/ch ). Chị D là ng ời hỏi vay, anh Hậu khi đó nhà có biết nh ng anh Hậu không muốn mua vì nói không có tiền đ a cho chị D. Do là chị em ruột tin t ng nhau nên không viết giấy biên nhận, ch nói miệng khi nào cần thì trả, không lấy lãi. Đến năm 2011 con thứ hai c a chị D, anh Hậu bị ốm phải đi Bệnh viện đa khoa t nh Nam Định điều trị bệnh chân tay miệng thì chị D có vay c a chị 20 triệu đồng. Chị đ a tiền cho chị D nhận, không lấy lãi và không viết giấy biên nhận, thời gian đó anh Hậu đi làm Miền Nam vắng nhà, chị không biết chị D có nói chuyện với anh Hậu hay không. Nay chị yêu cầu cả hai trả nợ cho chị 30 ch vàng 9999 và 20 triệu đồng gốc, chị không lấy lãi. Tại phiên tòa s th m, chị Dâng thay đổi ý kiến xin rút yêu cầu đòi nợ 30 ch vàng 9999 với lý do để chờ anh Hậu về các bên sẽ tr c tiếp gặp nhau giải quyết, giữ nguyên yêu cầu đòi số tiền 20.000.000 đồng.
* Tại biên bản lấy lời khai ngày 25-5-2021, các lời khai trong quá trình tố t ng và tại phiên tòa; ng ời có quyền lợi, nghĩa v liên quan chị Vũ Thị D trình bày: Chị là em ruột chị D. Khi chị D mua nhà đất năm 2008 có hỏi chị vay 18.000.000 đồng. Do chị em ruột tin t ng nhau nên không viết biên nhận, cũng không tính lãi và hẹn khi nào có thì trả. Chị đ a tiền cho chị D nhận. Nay chị D, anh Hậu ly hôn chị yêu cầu cả hai vợ chồng trả nợ cho chị số tiền gốc là 18.000.000 đồng, không yêu cầu trả lãi.
* Tại biên bản lấy lời khai ngày 25-5-2021 và các lời khai trong quá trình tố t ng, ng ời có quyền lợi, nghĩa v liên quan chị Đỗ Thị Đ trình bày: Chị và chị D có quan hệ họ hàng, bố đẻ chị là em ruột mẹ đẻ chị D. Khi chị D mua nhà đất năm 2008 có hỏi vay 10 ch vàng 9999. Do là chị em thân thích tin t ng nhau nên không viết biên nhận, không lấy lãi. Chị không biết chị D có nói chuyện với anh Hậu hay không, còn chị và anh Hậu không lần nào nói chuyện với nhau về việc chị D vay nợ vì anh Hậu th ờng xuyên đi làm vắng nhà không gặp đ ợc. Nay yêu cầu trả nợ cho chị 10 ch vàng 9999 gốc, không yêu cầu trả lãi. Chị yêu cầu chị D là ng ời vay thì chị D tr c tiếp trả cho chị.
* Tại biên bản lấy lời khai ngày 01-7-2021, ng ời làm chứng bà Vũ Thị Tho trình bày: Bà là mẹ đẻ c a anh Trần Văn H. Anh Hậu và chị D kết hôn sinh đ ợc hai con nh ng đều bị chết. Sau khi các con chết vợ chồng anh chị vào Miền Nam làm ăn, đ ợc một thời gian chị D về quê tr ớc, còn anh Hậu vẫn lại, bà không biết mâu thuẫn giữa anh chị thế nào ch biết đã lâu anh chị không còn sống chung. Nay ly hôn hay đoàn t thì tuỳ anh chị quyết định. Vợ chồng anh chị có nhà đất gần nhà bà do mua lại c a ông Tính, hiện chị D đang ; bà không biết anh chị có vay nợ c a ai không, anh chị không vay nợ bà. Anh Hậu vẫn th ờng xuyên liên lạc về nhà với bà, bà đ ợc anh Hậu nói chị D làm đ n xin ly hôn đến Toà nh ng anh Hậu không về giải quyết đ ợc do bị ảnh h ng c a dịch bệnh Covid 19 không đi lại đ ợc. Bà nhất trí nhận hộ các văn bản tố t ng c a Toà án để thông báo cho anh Hậu biết.
* Tại biên bản lấy lời khai ngày 12-8-2021 và tại phiên tòa, ng ời làm chứng anh Vũ Văn Th trình bày: Anh là chồng c a chị Diệu, là em rể c a chị D. Năm 2008 vợ chồng chị D, anh Hậu mua nhà đất c a ông Trần Văn T với giá 120.000.000 đồng; đã nhờ anh mang tiền đến nhà giao cho ông Tính và yêu cầu ông Tính viết giấy biên nhận ngày 20-02-2008, anh có ký tên cùng ông Tính. Năm 2019 chị D có nhờ anh tìm thợ s a chữa nhà cho chị D, chi phí hết 80.000.000 đồng do chị D và anh trao đổi với nhau, anh Hậu đi làm vắng nhà. Đối với số tiền 18.000.000 đồng vợ anh là chị Vũ Thị D cho chị D vay khi mua nhà là tài sản chung c a vợ chồng anh nh ng anh để cho vợ anh đứng tên đòi nợ vì anh bận công việc nên không tham gia.
* Tại phiên toà s th m, ng ời làm chứng anh Trần Văn H trình bày: Anh là anh trai c a anh Hậu và cũng cùng xóm. Anh biết anh Hậu đã đi làm ăn tại Miền Nam từ năm 1985. Sau khi kết hôn với chị D, anh Hậu vẫn th ờng xuyên đi làm ch thi thoảng mới về nhà. Vợ chồng anh Hậu, chị D mua nhà c a ông Tính để riêng không bàn bạc với anh em và cũng không hỏi vay anh để mua nhà, còn có vay nợ c a ai hay không thì anh không biết. Thời gian vừa qua anh Hậu có điện thoại về nhà nói lý do ảnh h ng c a dịch bệnh Covid 19 không về giải quyết việc gia đình với chị D đ ợc. Anh có đ ợc Tòa án mời ký chứng kiến việc th m định, định giá nhà đất c a vợ chồng anh Hậu, chị D nh ng anh không đ ợc hỏi về giá nhà đất nên không có ý kiến gì. Nay anh thấy kết quả định giá nhà đất ch có 530.700.000 đồng là thấp h n giá th c tế hiện nay nhiều. Anh đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn giữa chị D và anh Hậu theo đúng quy định pháp luật.
* Tại phiên toà s th m, ng ời làm chứng anh Trần Văn T trình bày: Năm 2008, chị D có hỏi mua nhà đất c a anh, còn anh Hậu không thấy hỏi gì. Anh đã bán nhà đất cho chị D với giá 120.000.000 đồng. Anh Vũ Văn Th là em rể chị D tr c tiếp mang tiền đến nhà anh giao và anh đã viết giấy biên nhận tiền bán nhà có anh và anh Th cùng ký tên, sau đó phía gia đình chị D làm th t c sang tên. Khi bán trên đất đã có sẵn 01 căn nhà cấp 4 cũ, bếp. Nay chị D, anh Hậu ly hôn anh không liên quan nên không có ý kiến gì.
* Tại phiên toà, ng ời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp c a bị đ n, ông Hoàng Tuấn A có quan điểm trình bày: Nhất trí với lời trình bày c a anh Trần Văn H. Việc vắng mặt c a anh Hậu là do bất khả kháng vì dịch bệnh Covid 19 chứ không phải anh Hậu cố tình né tránh đến Tòa giải quyết với chị D. Đề nghị Tòa án giải quyết vấn đề quan hệ hôn nhân và con chung theo pháp luật. Về tài sản là nhà đất các đ ng s kê khai có đ căn cứ xác định là tài sản chung c a vợ chồng; kết quả định giá nhà đất thấp h n nhiều so với giá thị tr ờng hiện nay; anh Hậu đã đ a ra hai ph ng án hòa giải nh ng chị D không nhất trí nên đề nghị Tòa án cho định giá lại nhà đất và chia đất cho anh Hậu đ ợc s d ng vì anh Hậu cũng có nhu cầu sau này về quê có chỗ . Về các khoản nợ do chị D kê khai toàn bộ vay c a ng ời thân thích bên chị D nh ng anh Hậu không công nhận, đề nghị Tòa không công nhận là nợ chung c a vợ chồng.
Tại bản án số 202/2021/HNGĐ-ST ngày 29-10-2021 c a Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, t nh Nam Định quyết định. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 59, Điều 60 và Điều 62 c a Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; các Điều 471, 474 c a Bộ luật Dân s năm 2005; khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 c a Bộ luật Tố t ng dân s năm 2015;
Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Vũ Thị D và anh Trần Văn H.
Về tài sản chung và nghĩa v về tài sản:
Chia cho chị Vũ Thị D đ ợc quyền s hữu, s d ng các tài sản chị đang quản lý gồm: Th a đất số 197, tờ bản đồ số 19, diện tích tích 705m2 (trong đó đất 108m2, đất v ờn 326m2, đất ao 271m2) tại Xóm MĐ, xã HG, huyện HH, t nh NĐ theo giấy chứng nhận quyền s d ng đất số AM 322930 do UBND huyện Hải Hậu cấp ngày 29-4-2008 đứng tên chị Vũ Thị D, anh Trần Văn H có trị giá 423.000.000 đồng và tài sản gắn liền với đất gồm: 01 nhà cấp 4, nền lát gạch ch ; phần s a chữa nhà cấp 4 năm 2019 gồm trát lại áo t ờng, đảo ngói, s n t ờng, s n cánh c a; 01 nhà ngang lợp ngói; 01 dại tôn lạnh; t ờng rào phía Đông; cổng, ngõ bê tông; kè bờ ao; 01 giếng khoan Unicef có tổng trị giá 107.700.000 đồng. Tổng cộng là 530.700.000đ (Năm trăm ba m i triệu bảy trăm nghìn đồng).
Buộc chị Vũ Thị D trả nợ cho: Bà Đỗ Thị Nh 10 (M ời) ch vàng 9999; chị Vũ Thị D 20.000.000đ (Hai m i triệu đồng); chị Vũ Thị D 18.000.000đ (M ời tám triệu đồng) và chị Đỗ Thị Đ 10 (m ời) ch vàng 9999. Tổng cộng nợ là 20 (Hai m i) ch vàng 9999 và 38.000.000đ (Ba m i tám triệu đồng).
Chị Vũ Thị D phải thanh toán chênh lệch tài sản, nghĩa v về tài sản cho anh Trần Văn H là 175.117.000đ (Một trăm bảy m i lăm triệu một trăm m ời bảy nghìn đồng).
Anh Trần Văn H đ ợc quyền s hữu số tiền 175.117.000đ (Một trăm bảy m i lăm triệu một trăm m ời bảy nghìn đồng) do chị Vũ Thị D thanh toán chênh lệch tài sản, nghĩa v về tài sản.
Ngoài ra, án s th m còn tuyên nghĩa v chậm thi hành án, lệ phí xem xét th m định và định giá tài sản, án phí, lệ phí, quyền kháng cáo và biện pháp thi hành án c a các đ ng s .
Ngày 02-11-2021 anh Trần Văn H là bị đ n trong v án có đ n kháng cáo toàn bộ nội dung liên quan đến tài sản và công nợ tại bản án s th m. Đề nghị Tòa án nhân dân t nh Nam Định tiến hành xét x lại v án theo đúng quy định c a pháp luật, bảo vệ quyền lợi chính đáng cho anh Hậu.
Ngày 30-12-2021 anh Hậu đã có đ n đề nghị định giá lại phần tài sản chung c a vợ chồng, Toà án đã thành lập Hội đồng định giá lại, ngày 15-3-2022 Hội đồng định giá đã tiến hành định giá lại giá trị quyền s d ng đất có giá 900.000.000đ, còn các tài sản khác chị D và anh Hậu thống nhất vẫn giữ nguyên giá trị nh lần định giá ban đầu.
Tại phiên toà phúc th m: Ng ời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh Hậu vẫn giữ nguyên nội dung trong đ n kháng cáo về phần tài sản và công nợ. Về các khoản nợ chị D kê khai vay c a bà Nh, chị Định, chị Dâng, chị Diệu anh Hậu không đ ợc biết, anh Hậu đề nghị HĐXX phúc th m không công nhận các khoản nợ này là nợ chung.
Nguyên đ n vẫn giữ nguyên yêu cầu kh i kiện, về quan hệ tình cảm, chia tài sản chung và công nợ nh phần trình bày tại cấp s th m, chị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo c a anh Hậu, chị đồng ý với giá trị quyền s d ng đất là 900.000.000đ mà Hội đồng định giá lại đã định giá, các đ ng s không thoả thuận đ ợc với nhau về việc giải quyết v án.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát t nh Nam Định phát biểu ý kiến: Về tố t ng, quá trình giải quyết v án tại cấp phúc th m, Th m phán, Hội đồng xét x và th ký phiên tòa đã tuân theo các quy định pháp luật tố t ng dân s . Các đ ng s chấp hành đúng các quy định pháp luật tố t ng dân s , quyền lợi c a các đ ng s đ ợc bảo đảm.
Về nội dung c a v án: Do định giá lại giá trị quyền s d ng đất c a vợ chồng chị D, anh Hậu đã tăng lên đến 900.000.000đ, còn các tài sản khác vẫn giữ nguyên nh cũ nên có c s để s a lại phần chia tài sản chung cho phù hợp với quy định c a pháp luật. Đề nghị giao cho chị Vũ Thị D đ ợc quản lý, s d ng toàn bộ th a đất và s hữu, s d ng toàn bộ tài sản chung nh ng cần buộc chị D có trách nhiệm trả toàn bộ nợ chung cho bà Nh 10 ch vàng, chị Dâng 20.000.000 đồng, chị Diệu 18.000.000 đồng, chị Định 10 ch vàng. Về thanh toán chênh lệch tài sản: Buộc chị D phải thanh toán chênh lệch tài sản cho anh Hậu sau khi đã trừ đi các khoản nợ chung. Do đó, có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo c a anh Hậu, đề nghị Hội đồng xét x căn cứ khoản 2 Điều 308; Điều 309 BLTTDS s a bản án s th m về chia tài sản chung c a vợ chồng. Về công nợ chung anh Hậu khai khi mua nhà đất vợ chồng phải đi vay 40.000.000đ nh ng không chứng minh đ ợc vay nợ c a ai, số nợ này t ng ứng phù hợp với số nợ chị D khai nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo c a anh Hậu. n phí phúc th m đề nghị giải quyết theo pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ s v án đ ợc th m tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét x nhận định:
Về tố t ng: Anh Trần Văn H là bị đ n đã có đ n xin xét x vắng mặt, chị Đỗ Thị Đ là ng ời có quyền lợi, nghĩa v liên quan đã có ý kiến xin xét x vắng mặt. Vì vậy căn cứ khoản 2 Điều 296 Bộ luật tố t ng dân s , Tòa án tiến hành xét x v án vắng mặt họ.
Xét đ n kháng cáo c a anh Trần Văn H làm trong thời hạn luật định phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 272; khoản 1 Điều 273; Điều 276 Bộ luật Tố t ng Dân s nên đ ợc Hội đồng xét x chấp nhận xem xét giải quyết.
Xét kháng cáo c a anh Trần Văn H về phân chia tài sản, công nợ c a vợ chồng để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp cho anh thấy rằng: Theo lời trình bày c a chị D và ng ời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp c a anh Hậu tại phiên tòa phúc th m thì tài sản chung c a vợ chồng hiện có: Th a đất số 197, tờ bản đồ số 19, diện tích tích 705m2 (trong đó đất 108m2, đất v ờn 326m2, đất ao 271m2) tại Xóm MĐ, xã HG, huyện HH, t nh NĐ theo giấy chứng nhận quyền s d ng đất số AM 322930 do UBND huyện Hải Hậu cấp ngày 29-4-2008 đứng tên chị Vũ Thị D, anh Trần Văn H. Nguồn gốc đất là do mua c a ông Trần Văn T năm 2008 và tài sản gắn liền với đất gồm: 01 nhà cấp 4, nền lát gạch ch ; phần s a chữa nhà cấp 4 năm 2019 gồm trát lại áo t ờng, đảo ngói, s n t ờng, s n cánh c a; 01 nhà ngang lợp ngói; 01 dại tôn lạnh; t ờng rào phía Đông; cổng, ngõ bê tông; kè bờ ao; 01 giếng khoan UNICEF. Theo biên bản định giá tài sản ngày 10-8-2021: Trị giá 705m2 đất là 423.000.000 đồng; 01 nhà cấp 4 là 28.400.000 đồng; phần s a chữa nhà cấp 4 năm 2019 gồm trát lại áo t ờng, đảo ngói, s n t ờng, s n cánh c a là 50.000.000 đồng; 01 nhà ngang lợp ngói là 8.500.000 đồng; 01 dại tôn lạnh là 2.600.000 đồng; t ờng rào phía Đông là 2.900.000 đồng; cổng và ngõ bê tông là 6.000.000 đồng; kè bờ ao là 6.300.000 đồng; 01 giếng khoan UNICEF là 3.000.000 đồng có tổng trị giá 107.700.000 đồng. Tổng cộng tài sản chung là 530.700.000đ (Năm trăm ba m i triệu bảy trăm nghìn đồng). Hiện tại chị Vũ Thị D đang quản lý, s d ng toàn bộ tài sản trên. Bị đ n anh Trần Văn H cho rằng kết quả định giá nhà đất c a vợ chồng nh trên là thấp h n nhiều so với giá thị tr ờng nên ngày 30-12-2021 anh Hậu đã có đ n đề nghị định giá lại phần tài sản chung c a vợ chồng, ngày 15-3-2022 Hội đồng định giá đã tiến hành định giá lại giá trị quyền s d ng đất có giá 900.000.000đ, còn các tài sản khác chị D và anh Hậu thống nhất vẫn giữ nguyên nh giá trị nh lần định giá đầu. Nh vậy Tổng giá trị tài sản chung c a vợ chồng chị D và anh Hậu là 900.000.000đ + 107.700.000đ = 1.007.700.000đ. Do giá trị quyền s d ng đất tăng lên theo giá c a thị tr ờng tại thời điểm hiện nay nên căn cứ khoản 2 Điều 308; Điều 309 BLTTDS có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo c a anh Hậu s a bản án s th m về việc phân chia tài sản chung là có căn cứ chấp nhận.
Về yêu cầu chia hiện vật c a nguyên đ n: Chị Vũ Thị D và anh Trần Văn H đều có yêu cầu đ ợc chia nhà đất để s d ng và nhận trách nhiệm thanh toán chênh lệch tài sản cho nhau. Hội đồng xét x xét thấy mặc dù th a đất có diện tích lớn (705m2) nh ng chiều rộng mặt tiền giáp đ ờng xóm ch có 13,8m; chiều sâu th a đất dài khoảng 54m – 55m; ba mặt còn lại đều giáp đất c a các hộ gia đình khác không có lối đi ra đ ờng công cộng; căn nhà cấp 4, một nhà ngang lợp ngói và công trình xây d ng khác liền kề xây d ng kiên cố giữa th a đất nằm trên toàn bộ chiều ngang c a th a đất không còn khoảng đất trống nào, phần ao lại vị trí phía Nam tr ớc nhà giáp với đ ờng dong c a xóm. Do đó nếu chia đôi th a đất sẽ gây khó khăn cho việc s d ng c a các bên và gây ra thiệt hại lớn về kinh tế do phải phá rỡ các công trình xây d ng kiên cố. Vì vậy ch có thể chia cho một bên đ ng s s d ng là phù hợp. Xét chị Vũ Thị D đang quản lý, s d ng nhà đất trên để từ khi mua cho đến nay, ngoài ra chị D không còn chỗ nào khác; hoàn cảnh c a chị đang gặp khó khăn h n so với anh Hậu; mặt khác chị D cũng có nhiều công sức h n anh Hậu trong việc mua nhà đất nên cần giao cho chị Vũ Thị D đ ợc s hữu, s d ng toàn bộ nhà đất và thanh toán giá trị chênh lệch tài sản cho anh Trần Văn H là phù hợp với quy định tại Điều 59, Điều 62 Luật Hôn nhân và gia đình nh Toà án cấp s th m đã nhận định là có căn cứ chấp nhận.
Xét nguồn gốc nhà đất c a vợ chồng là do mua lại c a ông Trần Văn T năm 2008 với giá 120.000.000 đồng. Tuy nhiên chị D có nhiều công sức h n anh Hậu từ việc đi giao dịch, vay m ợn nợ để mua nhà đất; cải tạo, s a chữa nhà ; mặt khác chị D cũng có hoàn cảnh gặp khó khăn h n so với anh Hậu. Do đó cần chia cho chị D đ ợc h ng 55% giá trị tài sản chung, chia cho anh Hậu đ ợc h ng 45% giá trị tài sản chung sau khi đã trừ nợ chung là phù hợp quy định tại Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về nghĩa v về tài sản: Chị D trình bày khi mua nhà đất năm 2008, vợ chồng đã vay bà Đỗ Thị Nh 10 ch vàng 9999, chị Vũ Thị D 30 ch vàng 9999, chị Vũ Thị D 18.000.000 đồng, chị Đỗ Thị Đ 10 ch vàng 9999; giá vàng khi vay khoảng 1.700.000 đồng/ch . Đến năm 2011 do cần tiền chữa bệnh cho con nên đã vay tiếp c a chị Vũ Thị D 20.000.000 đồng. Đến nay vẫn còn nợ số tiền, vàng nêu trên. Chị yêu cầu xác định là nợ chung c a vợ chồng và yêu cầu chia đôi khi ly hôn. Tại phiên tòa s th m chị Dâng xin rút yêu cầu đòi nợ 30 ch vàng thì chị D cũng nhất trí. Bà Nh, chị Dâng, chị Diệu và chị Định đều thống nhất với lời trình bày c a chị D. Anh Hậu không thừa nhận các khoản nợ chị D kê khai là nợ chung c a vợ chồng. Xét thấy, theo các bản trình bày và đề nghị c a anh Hậu g i cho Tòa án, anh Hậu thừa nhận khi mua nhà năm 2008 vợ chồng có vay nợ c a ng ời khác khoảng 40.000.000 đồng. Mặc dù anh Hậu không công nhận vay c a những ng ời thân bên vợ do chị D kê khai nh ng anh cũng không cung cấp đ ợc tài liệu, chứng cứ đã vay số tiền 40.000.000 đồng c a ai, việc trả nợ thế nào. Trong khi đó ng ời làm chứng anh Trần Văn T là ng ời bán nhà đất tại phiên toà s th m và phúc th m hôm nay đều đã xác nhận chị D là ng ời giao dịch mua nhà với anh Tính và nhờ em rể là anh Th giao tiền hộ, còn anh Hậu không gặp anh Tính. Nh vậy có căn cứ khẳng định chị D là ng ời tr c tiếp giao dịch mua bán nhà với anh Tính và là ng ời tr c tiếp vay nợ để trả tiền mua nhà. Theo kết quả xác minh về giá vàng 9999 tại thời điểm tháng 02 năm 2008 là khoảng từ 1.800.000 đồng đến 1.900.000 đồng/ch thì số tiền vay nợ 40.000.000 đồng để mua nhà đất nh anh Hậu đã khai cũng t ng đ ng khoảng từ 21 ch đến 22 ch vàng. Số tiền vay nợ mua nhà do anh Hậu khai cũng t ng đ ng với các khoản nợ chị D đã khai vay c a bà Nh, chị Định và chị Diệu; đến nay chị D và các ch nợ đều khẳng định ch a thanh toán trả nợ, anh Hậu cho rằng đã trả nợ xong từ năm 2014 nh ng ngoài lời khai c a mình thì không đ a ra đ ợc chứng cứ chứng minh đã trả hết nợ. Do đó chị D khai còn nợ bà Nh 10 ch vàng, chị Định 10 ch vàng và chị Diệu 18.000.000 đồng là có căn cứ. Số nợ trên đ ợc dùng để trả tiền mua nhà đất là tài sản chung c a vợ chồng nên đ ợc xác định là nợ chung theo quy định tại Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Đối với khoản nợ c a chị Vũ Thị D: Tại phiên tòa s th m chị Dâng đã xin rút một phần yêu cầu đòi nợ chị D, anh Hậu 30 ch vàng 9999, chị D cũng nhất trí với việc rút yêu cầu trên nên Hội đồng xét x cấp s th m không xem xét giải quyết, sau này các bên có tranh chấp và yêu cầu Tòa án giải quyết thì sẽ đ ợc giải quyết bằng v án dân s khác. Còn số tiền 20.000.000 đồng chị D và chị Dâng cho rằng vay để chữa bệnh cho con thứ hai c a vợ chồng chị D năm 2011, thời điểm đó anh Hậu đi làm vắng nhà; tuy anh Hậu không công nhận nh ng trong phần tranh t ng tại phiên tòa s th m có căn cứ xác định có việc chị D đ a con đi chữa bệnh tại bệnh viện tr ớc khi con chết, khi đó anh Hậu đi làm vắng nhà nên chị D khai có vay nợ c a chị Dâng 20.000.000 đồng để chữa bệnh cho con là có c s chấp nhận. Việc vay nợ nhằm đáp ứng cho nhu cầu thiết yếu c a gia đình theo quy định tại khoản 20 Điều 3, Điều 27, Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên đ ợc công nhận là nợ chung vợ chồng.
Nh vậy tổng số nợ chung c a chị D, anh Hậu là 20 ch vàng 9999 và 38.000.000 đồng. Chị D và anh Hậu mỗi ng ời phải trả 1/2 số nợ chung theo quy định pháp luật. Chị D nhận trả nợ cho các ch nợ vì đều là ng ời thân thích c a chị nên đ ợc ghi nhận. Kháng cáo c a anh Hậu về phần nợ chung là không có c s chấp nhận.
Về chi phí tố t ng: Bị đ n anh Trần Văn H nhận nộp toàn bộ chi phí xem xét, th m định đất và định giá lại tài sản, anh đã nộp tạm ứng và chi xong.
Về án phí dân s s th m: Do định giá lại giá trị quyền s d ng đất c a vợ chồng chị D, anh Hậu tăng lên. Vì vậy, có căn cứ để s a lại phần án phí chia tài sản chung sau khi đã trừ đi các khoản nợ chung c a chị D và anh Hậu là phù hợp. Tại thời điểm xét x s th m ngày 29-10-2021, giá vàng loại 9999 trung bình trên thị tr ờng là 5.177.500 đồng/ch .
Qua những phân tích nêu trên đã cho thấy những kết luận trong bản án s th m là ch a hoàn toàn phù hợp với những quy định c a pháp luật. Tòa án cấp s th m đã căn cứ vào giá trị đất theo khung bảng giá c a Nhà n ớc để buộc chị D thanh toán tiền chênh lệch chia tài sản chung là đã làm ảnh h ng đến quyền và lợi ích hợp pháp c a anh Hậu. Do đó có căn cứ s a lại án s th m về chia tài chung cho phù hợp với các quy định c a pháp luật.
n phí dân s phúc th m: Do s a án s th m nên anh Trần Văn H không phải nộp án phí dân s phúc th m. Số tiền 300.000đ anh Hậu đã nộp tạm ứng án phí dân s phúc th m sẽ đ ợc hoàn trả lại.
Những quyết định khác c a bản án s th m không bị kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét x không giải quyết, có hiệu l c pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308; Điều 309 Bộ luật tố t ng dân s năm 2015. S a bản án s th m số 202/2021/HNGĐ-ST ngày 29-10-2021 c a Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, t nh Nam Định.
Căn cứ Điều 147; Điều 148; Điều 156; Điều 157; khoản 2 Điều 296 Bộ luật tố t ng dân s năm 2015; Điều 37; khoản 1 Điều 56; Điều 59; Điều 60 và Điều 62 c a Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; các Điều 471, 474 c a Bộ luật Dân s năm 2005; các Điều 357; Điều 463, Điều 466 c a Bộ luật Dân s năm 2015; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 c a Uỷ ban th ờng v Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và s d ng án phí và lệ phí Toà án:
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Vũ Thị D và anh Trần Văn H.
2. Về tài sản chung và nghĩa v về tài sản:
2.1. Chia cho chị Vũ Thị D đ ợc quyền quản lý, s d ng các tài sản chị đang quản lý gồm: Th a đất số 197, tờ bản đồ số 19, diện tích tích 705m2 (trong đó đất 108m2, đất v ờn 326m2, đất ao 271m2) tại Xóm MĐ, xã HG, huyện HH, t nh NĐ theo giấy chứng nhận quyền s d ng đất số AM 322930 do UBND huyện Hải Hậu cấp ngày 29-4-2008 đứng tên chị Vũ Thị D, anh Trần Văn H có trị giá 900.000.000 đồng và đ ợc s hữu, s d ng tài sản gắn liền với đất gồm: 01 nhà cấp 4, nền lát gạch ch ; phần s a chữa nhà cấp 4 năm 2019 gồm trát lại áo t ờng, đảo ngói, s n t ờng, s n cánh c a; 01 nhà ngang lợp ngói; 01 dại tôn lạnh; t ờng rào phía Đông; cổng, ngõ bê tông; kè bờ ao; 01 giếng khoan Unicef có tổng trị giá 107.700.000 đồng. Tổng cộng là 1.007.700.000đ (Một tỷ không trăm linh bảy triệu bảy trăm nghìn đồng).
(Chị Vũ Thị D liên có nghĩa v liên hệ với c quan nhà n ớc có th m quyền quản lý đất đai để làm th t c đăng ký cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền s d ng đất theo quyết định c a Tòa án).
2.2. Buộc chị Vũ Thị D phải có trách nhiệm thanh toán trả nợ cho: Bà Đỗ Thị Nh 10 (M ời) ch vàng 9999; chị Vũ Thị D 20.000.000đ (Hai m i triệu đồng); chị Vũ Thị D 18.000.000đ (M ời tám triệu đồng) và chị Đỗ Thị Đ 10 (m ời) ch vàng 9999. Tổng cộng nợ là 20 (Hai m i) ch vàng 9999 và 38.000.000đ (Ba m i tám triệu đồng).
2.3. Chị Vũ Thị D phải thanh toán chênh lệch tài sản, nghĩa v về tài sản cho anh Trần Văn H là 389.767.500đ (Ba trăm tám m i chín triệu bảy trăm sáu m i bảy nghìn năm trăm đồng).
2.4. Anh Trần Văn H đ ợc quyền s hữu số tiền 389.767.500đ (Ba trăm tám m i chín triệu bảy trăm sáu m i bảy nghìn năm trăm đồng) do chị Vũ Thị D thanh toán chênh lệch tài sản, nghĩa v về tài sản.
3. Nghĩa v chậm thi hành án: Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu l c pháp luật (đối với các tr ờng hợp c quan thi hành án có quyền ch động thi hành án) hoặc kể từ ngày ng ời đ ợc thi hành án có đ n yêu cầu thi hành án đối với các khoản tiền phải trả cho ng ời đ ợc thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi c a số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357; khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân s 2015.
4. Về chi phí tố t ng: Anh Trần Văn H nhận nộp toàn bộ lệ phí, chi phí tố t ng định giá lại tài sản; xác nhận anh Hậu đã nộp tạm ứng chi phí tố t ng và chi xong.
5. n phí dân s s th m:
Chị Vũ Thị D phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, 23.055.000đ (Hai m i ba triệu không trăm năm m i lăm nghìn đồng) án phí chia tài sản chung. Đ ợc đối trừ vào số tiền 3.300.000đ (Ba triệu ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số AA/2017/0002614 ngày 11-5-2021 c a Chi c c Thi hành án dân s huyện Hải Hậu. Chị Vũ Thị D còn phải nộp thêm 20.055.000đ (Hai m i triệu không trăm năm m i lăm nghìn đồng).
Anh Trần Văn H phải nộp 19.488.000đ (M ời chín triệu bốn trăm tám m i tám nghìn đồng) án phí chia tài sản chung.
6. n phí dân s phúc th m: Anh Trần Văn H không phải nộp. Hoàn trả lại cho anh Hậu số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí dân s phúc th m tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0006005 ngày 16-11-2021 c a Chi c c Thi hành án dân s huyện Hải Hậu, t nh Nam Định.
Tr ờng hợp bản án đ ợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân s thì ng ời đ ợc thi hành án dân s , ng ời phải thi hành án dân s có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, t nguyện thi hành án hoặc bị c ỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân s ; thời hiệu thi hành án đ ợc th c hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân s .
Bản án phúc th m có hiệu l c thi hành kể từ ngày tuyên án.
CÁC THẨM PHÁN
| Vũ Hà Nam Nguyễn Đức Cảnh Nơ nhận - Các đ ng s ; - VKSND t nh Nam Định; - TAND huyện Hải Hậu; - Chi c c THADS huyện Hải Hậu; - Hồ s v án; - L u HS, VT. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lại Văn Tùng TM. HỘI Đ NG X T X PH C THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lại Văn Tùng |