- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn S Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung…"
- Tòa quyết gì? [1]. Không chấp nhận háng cáo c a bị hại Võ Hồng N ; Giữ nguyên bản án sơ thẩm:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2021/HS - PT Ngày 21 – 6 – 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Bình.
Các Thẩm phán: Ông Đỗ Văn Hiên; Ông Lê Đình Nam.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Việt Anh - Thư T a án c a T a án nhân dân tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai: Ông Tạ Trung Kiên - Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 21 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở T a án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm công hai vụ án hình sự phúc thẩm thụ l số: 32/2021/TLPT - HS ngày 21 tháng 5 năm 2021 đối với bị cáo Trần Văn S do có háng cáo c a người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 28/2021/HS - ST ngày 13 tháng 4 năm 2021 c a T a án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.
- Bị cáo bị kháng cáo:
Trần Văn S ; sinh năm 1990 tại Bình Định; Nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã H, huyện, tỉnh Bình Định; Chỗ ở: Tổ 02, phường T1, thành phố P, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Thợ mộc; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn G (Đã chết) và bà Mai Thị Tr, sinh năm 1964; Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Kim A (Đã chết) và 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2018; tiền án: Không; tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/8/2020 đến ngày 08/9/2020 được tại ngoại. Có mặt.
- Người bị hại: Anh Võ Hồng N , sinh năm 1977.
Địa chỉ: 95 Lương Đình C a, tổ 02, phường T1, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Trần Thị M, sinh năm 1984.
Địa chỉ: 95 L, tổ 02, phường T1, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Năm 2016, Trần Văn S đến nhà ông Võ Hồng N (là cậu vợ S ) tại số nhà 95 đường L , Tổ 2, phường T1, thành phố P, tỉnh Gia Lai ở phía sau nhà và làm nghề thợ mộc. Vào hoảng 20 giờ ngày 29/8/2020, Trần Văn S ngồi uống rượu và hát Karao e một mình. Đến hoảng 22 giờ cùng ngày, ông Võ Hồng N ở phía trước nhà S gọi điện thoại cho S để yêu cầu tắt Karao e nhưng S không nghe máy. Sau đó, ông N trình báo Công an phường T1 đến nhà S làm việc thì S tắt máy Karao e và bỏ trốn ra phía sau nhà. Sau hi Công an phường đi về, S đi ra ngoài thì thấy ông N đã hóa cổng nhà nên S đi vào nhà lấy búa, ìm, dao Thái Lan rồi điều hiển xe mô tô biển số 77E1-082.39 đến hàng rào phá hàng rào để đi ra ngoài. Lúc này, ông N lấy 01 cây gỗ tr n dài 1,34 mét đường ính 2,5cm đi ra thì thấy S đang phá hàng rào nên truy hô: "Ăn trộm, ăn trộm", nghe vậy S cầm dao Thái Lan đi đến chỗ ông N nói: "Con đây chứ trộm gì" thì bị ông N dùng cây đánh 01 cái trúng tay trái c a S nhưng hông bị thương tích gì rồi ông N bị rơi cây gỗ xuống đất; ông N vừa cúi xuống nhặt cây gỗ thì S lao vào dùng tay trái ôm giữ người ông N , tay phải cầm dao Thái Lan dài hoảng 20cm đâm 03 nhát vào vùng lưng c a ông N làm ông N ngã xuống đất. Sau đó, ông N đứng dậy cầm gậy đuổi theo đánh trúng vào mũ bảo hiểm S đang đội trên đầu rồi S bỏ trốn. Khi đi đến hu vực cây xăng số 47 thuộc huyện Đă Đoa thì S vứt dao Thái Lan. Sau hi bị S đâm gây thương tích, ông Nguyễn được bà Trần Thị M ( là bạn gái c a ông N ) đưa đến Bệnh viện đa hoa tỉnh Gia Lai cấp cứu đến ngày 07/9/2020 xuất viện. Đến ngày 30/8/2020, S đến Công an phường T1 đầu thú và hai nhận hành vi như đã nêu trên. Nhận được tin báo, Cơ quan điều tra đã tiến hành hám nghiệm hiện trường, đã thu giữ tại hiện trường: 01 đôi dép nhãn hiệu Asia c a Trần Văn S và 01 cây gỗ tròn dài 1,34 mét đường ính 2,5cm. Ngoài ra, bà Trần Thị M giao nộp xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển số 77E1-082.39.
Ngày 07/9/2020, Võ Hồng N làm đơn yêu cầu hởi tố vụ án hình sự đối với Trần Văn S .
Tại Bản ết luận giám định pháp y về thương tích số 191/2020/TgT ngày 03/9/2020 c a Trung tâm pháp y tỉnh Gia Lai, ết luận: Tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 8 %.
Tại Cáo trạng số: 29/CT-VKS ngày 08 tháng 02 năm 2021 c a Viện iểm sát nhân dân thành phố Plei u, tỉnh Gia Lai đã truy tố Trần Văn S về tội “Cố gây thương tích” theo điểm a hoản 1 Điều 134 c a Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 28/2021/HS - ST ngày 13 tháng 4 năm 2021 c a T a án nhân dân thành phố Plei u, tỉnh Gia Lai đã quyết định:
- Tuyên bố bị cáo Trần Văn S phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Áp dụng điểm a Khoản 1 Điều 134; điểm b, e, i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38; 50; 65 c a Bộ luật hình sự năm 2015; S a đổi, bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo Trần Văn S : 01 (Một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 (Hai bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án.
- Căn cứ Điều 30 của Bộ luật tố tụng hình sự:Giành quyền hởi iện yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức hỏe cho anh Võ Hồng N bằng một vụ án dân sự hác hi có yêu cầu theo quy định c a pháp luật tố tụng dân sự.
Bản án c n tuyền về xử l vật chứng, án phí, quyền háng cáo theo quy định c a pháp luật.
Sau hi xét xử sơ thẩm, ngày 26/4/2021, người bị hại Võ Hồng N kháng cáo đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo Trần Văn S , đề nghị tăng mức bồi thường thiệt hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đề nghị tăng mức bồi thường thiệt hại.
2.Diễn biến tại phiên toà:
Tại phiên toà, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vẫn giữ N nội dung háng cáo.
-Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên thể hiện như sau:
Toà án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Trần Văn S về tội “Cố gây thương tích” theo điểm a hoản 1 Điều 134 c a Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Toà án cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, e, i, s hoản 1, hoản 2 Điều 51 c a Bộ luật Hình sự; Áp dụng Điều 65 c a Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Văn S 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng là đúng quy định c a pháp luật, phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm c a hành vi, đảm bảo tác dụng răn đe giáo dục riêng và ph ng ngừa chung. Bị hại háng cáo đề nghị tăng hình phạt nhưng hông có căn cứ, vì vậy háng cáo hông được chấp nhận.
Đối với háng cáo c a người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan về phần dân sự, do Toà án cấp sơ thẩm chưa giải quyết vấn đề dân sự mà tách ra, giành quyền hởi iện bằng một vụ án dân sự hác cho bị hại hi có yêu cầu. Do đó, háng cáo c a bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về vấn đề này là hông phù hợp, hông có căn cứ nên hông xem xét, hông được chấp nhận.
Vì các lẽ trên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a hoản 1 Điều 355, Điều 356 c a Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận háng cáo c a bị hại và kháng cáo c a người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
.Về hành vi phạm tội c a bị cáo:
Tại phiên toà bị cáo Trần Văn S hai nhận hành vi phạm tội đúng như bản án sơ thẩm đã nêu, phù hợp lời hai c a người bị hại, ết luận giám định pháp y và các chứng cứ, tài liệu hác có tại hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên toà. Đ cơ sở hẳng định: Vào hoảng 20 giờ, ngày 29/8/2020, do S mở araô ê hát gây ồn ào nên ông N là cậu c a vợ S đã gọi điện nhắc nhở S , yêu cầu S tắt máy nhưng S không nghe, ông N đã gọi Công an phường đến làm việc thì S bỏ ra sau nhà, khi Công an về ông N đã hoá cửa nhà S lại, vì vậy S đã lấy ìm, dao, búa phá hoá hàng rào để ra ngoài, trong hi S phá hàng rào ra ngoài thì ông N êu trộm trộm, S nói với ông N là con đây chứ ăn trộm gì, thì S bị ông N dùng gậy gỗ tr n dài 1,43cm, đường ính 25cm đánh 01 cái vào tay c a S , bực tức nên Trần Văn S đã dùng dao thái lan dài hoảng 20cm, đâm 03 nhát vào lưng c a ông N gây thương tích tổn hại sức hoẻ là 08%, khi thực hiện hành vi bị cáo có đ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố , ông N có đơn yêu cầu hởi tố đối với S . Với hành vi nêu trên, Toà án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Trần Văn S về tội “Cố gây thương tích” theo điểm a hoản 1 Điều 134 c a Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
. Xét háng cáo c a người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, thấy rằng:
Đối với háng cáo c a bị hại Võ Hồng N về việc đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo: Trong vụ án này, N nhân dẫn đến việc bị cáo phạm tội một phần là do lỗi c a người bị hại, bị hại Võ Hồng N đã có hành vi trái pháp luật, dùng gậy đánh bị cáo trước dẫn đến bị cáo bị ích động về mặt tinh thần nên nhất thời phạm tội, bị cáo có nhân thân tốt, sau hi phạm tội đã ra đầu thú, trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo luôn thật thà hai báo, ăn năn hối cải, đã tác động gia đình bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có hoàn cảnh gia đình hó hăn, phải một mình nuôi 2 con nhỏ, có nơi cư trú rõ ràng, việc cách ly bị cáo hỏi đời sống xã hội là hông cần thiết. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, e, i, s hoản 1, hoản 2 Điều 51 c a Bộ luật Hình sự; Áp dụng Điều 65 c a Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Văn S 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng là đúng quy định c a pháp luật, phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm c a hành vi, đảm bảo tác dụng răn đe giáo dục riêng và ph ng ngừa chung. Bị hại háng cáo đề nghị tăng hình phạt nhưng hông có căn cứ, vì vậy háng cáo hông được chấp nhận.
Đối với háng cáo c a người bị hại và háng cáo c a người có quyền người liên quan về viêc đề nghị tăng mức bồi thường dân sự, thấy rằng: Trong giai đoạn điều tra người bị hại ông Võ Hồng N , người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là chị Trần Thị M không có yêu cầu bồi thường về phần dân sự, tại phiên toà sơ thẩm ông N , chị M cũng chưa cung cấp tài liệu, chứng cứ về phần dân sự và chưa yêu cầu giải quyết về phần dân sự. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm đã tách vấn đề dân sự, giành quyền hởi iện cho bị hại Võ Hồng N bằng một vụ án dân sự hác là đúng quy định c a pháp luật. Vì Toà án cấp sơ thẩm hông giải quyết vấn đề dân sự trong cùng vụ án này, nên háng cáo c a bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về việc đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xem xét tăng mức bồi thường dân sự hông được xem xét.
Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hông phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
. Do kháng cáo hông được chấp nhận, nên bị hại Võ Hồng N phải chịu án phì hình sự phúc thẩm.
. Các quyết định hác c a bản án sơ thẩm hông có háng cáo, hông bị háng nghị có hiệu lực pháp luật ể từ ngày hết thời hạn háng cáo, háng nghị.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ điểm a hoản 1 Điều 355, Điều 356 c a Bộ luật Tố tụng hình sự;
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Không chấp nhận háng cáo c a bị hại Võ Hồng N ; Giữ nguyên bản án sơ thẩm:
-Áp dụng điểm a Khoản 1 Điều 134; điểm b, e, i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38; 50; 65 của Bộ luật hình sự năm 2015; S a đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Trần Văn S : 01 (Một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 13/4/2021).
Giao bị cáo Trần Văn S cho Ủy ban nhân dân xã Cát Hiệp, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định c a pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì T a án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù c a bản án đã cho hưởng án treo.
-Căn cứ Điều 30 của Bộ luật tố tụng hình sự:
Giành quyền hởi iện yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức hỏe cho anh Võ Hồng N bằng một vụ án dân sự hác hi có yêu cầu theo quy định c a pháp luật tố tụng dân sự.
[2].Về án phí: Áp dụng hoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm d hoản 1 Điều 12, điểm đ hoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326-2016-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 c a Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Toà án:
Bị hại Võ Hồng N phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
Trả lại cho ông Võ Hồng N , chị Trần Thị M mỗi người 300.000đồng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp tại Biên lai số 0012446 và 0012447 ngày 11/5/2021 c a Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Plei u, tỉnh Gia Lai.
[3]. Các quyết định hác c a bản án sơ thẩm hông có háng cáo, háng nghị có hiệu lực pháp luật ể từ ngày hết thời hạn háng cáo, háng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- VKSND tỉnh Gia Lai;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND thành phố Plei u;
- Cơ quan CSĐT Công an Peliku;
- VKSND thành phố Plei u;
- Chi cục THA DS Plei u; -Trại tạm giam Công an tỉnh;
- Bị cáo, người tham gia tố tụng khác;
Võ Văn Bình
- Lưu: VT, Tổ thụ l , hồ sơ vụ án
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ể từ ngày tuyên án./.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA HIÊN TÒA
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên./.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Gia Lai; - TAND thành phố Plei u; - Cơ quan CSĐT Công an Peli u; - VKSND thành phố Plei u; - Chi cục THA DS Pleiku; -Trại tạm giam Công an tỉnh; - Bị cáo, Người tham gia tố tụng khác; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Văn Bình |