- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị H và Trần Văn V Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU Bản án số: 25/2021/HNGĐ-ST Ngày 09-4-2021 V/v tranh chấp “Ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Hữu Trí.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thủy và bà Nguyễn Thị Di.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Hạnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Long – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 4 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 407/2020/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2020, về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 23/02/2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2021/QĐST-HNGĐ ngày 19/3/2021, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1981 (vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
- Bị đơn: Ông Trần Văn V, sinh năm 1980 (vắng mặt không có lý do).
Địa chỉ: khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản không hòa giải được tại tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:
Bà Nguyễn Thị H và ông Trần Văn V tự nguyện chung sống vợ chồng với nhau từ năm 2003, có đăng ký kết hôn, tổ chức đám cưới. Đến cuối năm 2017 vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do ông V thường hay đi uống rượu bia, mỗi khi đi uống rượu bia về thì ông V kiếm chuyện chửi bà H nên vợ chồng hay cãi nhau. Hiện nay, vợ chồng đã sống ly thân, mặc ai nấy sống, không ai quan tâm đến ai. Vợ chồng có nói chuyện hàn gắn tình cảm nhưng không được. Nay bà H nhận thấy không còn tình cảm, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau và không thể chung sống với ông V được nữa. Vì vậy bà H yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông V.
Về con chung: Bà H và ông V có 3 con chung là Trần Văn Phú, sinh năm 2002 đã trưởng thành, phát triển bình thường; Nguyễn Thị Trang, sinh ngày 17/5/2006 và Trần Yến Nhi, sinh ngày 06/4/2011. Bà H yêu cầu được nuôi 2 cháu Trang và Nhi cho đến khi đủ 18 tuổi và không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về ý kiến của bị đơn ông Trần Văn V: Trong quá trình tố tụng ông V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và không có ý kiến gì.
- Theo Biên bản xác minh ngày 20/11/2020 của Tòa án nhân dân huyện Long Điền có nội dung như sau: Ông Trần Văn V, sinh năm 1980 có hộ khẩu thường trú tại Tổ 1, khu phố Hải Bình, thị trấn Long Hải, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu và ông V vẫn đang sinh sống tại địa chỉ này. Lý do mâu thuẫn vợ chồng ông V, bà H thì khu phố không rõ.
- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng. Bị đơn chưa thực hiện đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng.
Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H. Về con chung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của bà H, giao 2 con chung là Nguyễn Thị Trang, sinh ngày 17/5/2006 và Trần Yến Nhi, sinh ngày 06/4/2011 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng và ông V không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Bà H và ông V không yêu cầu giải quyết nên không xét đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng và quan hệ tranh chấp: Đây là vụ án tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông V tự nguyện chung sống, đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn: Xét thấy, sự mâu thuẫn trong quan hệ vợ chồng giữa bà H, ông V là có thật, vợ chồng không có sự đồng cảm, quan tâm, chia sẻ buồn vui cùng nhau, hiện nay vợ chồng đã sống ly thân, mặc ai nấy sống, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Như vậy, quan hệ hôn nhân của bà H, ông V là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà H.
Về con chung: Bà H xác nhận có 3 con chung là Trần Văn Phú, sinh năm 2002 đã trưởng thành, phát triển bình thường; Nguyễn Thị Trang, sinh ngày 17/5/2006 và Trần Yến Nhi, sinh ngày 06/4/2011. Bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi cả 2 cháu Trang và Nhi và không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy cả 2 cháu Trang và Nhi có nguyện vọng ở với bà H, mặt khác ông V không đến Tòa án giải quyết việc ly hôn với bà H nên không biết nguyện vọng của ông V, nên chấp nhận yêu cầu của bà H, giao 2 cháu Trang và Nhi cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng. Bà H không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà H và ông V không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Bà H phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 227 và 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51; 56, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H được ly hôn ông Trần Văn V.
- Về con chung: Bà H, ông V có 3 con chung là Trần Văn Phú, sinh năm 2002 đã trưởng thành, phát triển bình thường; Nguyễn Thị Trang, sinh ngày 17/5/2006 và Trần Yến Nhi, sinh ngày 06/4/2011. Giao 2 con chung là cháu Trang và Nhi cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 (mười tám) tuổi. Ông V không phải cấp dưỡng nuôi con do bà H không yêu cầu.
Ông Trần Văn V được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà H và ông V không yêu cầu giải quyết nên không xét đến.
2. Án phí: Áp dụng Nghị Quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án: Bà Nguyễn Thị H phải nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 04133 ngày 31/8/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Điền, bà H đã nộp xong.
3. Quyền kháng cáo: Trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án (09/4/2021) đương sự có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thủy Nguyễn Thị Di
Đỗ Hữu Trí
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh BR-VT; - VKSND huyện Long Điền; - THADS huyện Long Điền; - Các đương sự; - UBND thị trấn Long Hải, huyện Long Điền; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Hữu Trí |