- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh Q Cố ý gây thương tích khoản 3 Điều 134 BLHS 2015 - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh Q phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2021/HS-ST. Ngày: 04-02-2021. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà La Thị Hồng Gấm.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lê Thị Ánh Sáng.
2. Bà Lý Thị Bạch Tuyết.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngọc Tình – Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Long Thành.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia phiên tòa: Ông Lƣơng Duy Hải – Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 02 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 246/2020/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2021/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2021 đối với bị cáo:
Nguyễn Thanh Q, sinh ngày 19/12/1994 tại tỉnh Đồng Nai.
Nơi đăng ký thường trú: Ấp 2, xã Long An, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Thanh M và bà Phan Thị V. Bị cáo là con thứ hai trong gia đình có 3 anh em.
Tiền án: không.
Tiền sự: không.
Nhân thân: Ngày 22/9/2011, bị Tòa án nhân dân huyện Long Thành xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng về tội “Cố ý gây thương tích”. Chấp hành xong ngày 22/01/2013 (Bản án số 133/2011/HSST ngày 22/9/2011).
Bị bắt tạm giữ ngày 20/10/2020 và chuyển tạm giam đến nay (có mặt).
- Bị hại: Anh Nguyễn Minh R, sinh năm: 1983 (vắng mặt).
Hộ khẩu thường trú: Ấp 2, xã Long An, huyện Long Thành, Đồng Nai.
- Người làm chứng:
1/ Ông Trƣơng Văn Â, sinh năm: 1958 (có mặt).
2/ Anh Nguyễn Phúc H, sinh năm: 1987 (có mặt).
3/ Anh Trƣơng Minh Hi, sinh năm: 1987 (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lúc 08 giờ 00 phút ngày 07/9/2020 anh Nguyễn Minh R điều khiển xe ô tô đến đỗ trước quán nước “Anh Thư” ở ấp 2 xã Long An, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai để đợi khách và vào quán uống nước (anh R làm nghề chạy xe taxi). Lúc này Nguyễn Thanh Q cũng điều khiển xe ô tô đến và đỗ gần xe của anh R. Do có mâu thuẫn trong việc đỗ xe trước đó, nên Q bực tức nhặt 02 cục gạch ống loại gạch 04 lỗ đi đến chỗ anh R ngồi, dùng tay phải ném viên gạch lần thứ nhất về phía anh R nhưng không trúng, Q ném lần thứ 02 viên gạch trúng vào ngực anh R, do bị đau nên anh R ngồi xuống, tay ôm ngực thì có anh Nguyễn Phúc H đến can ngăn Q, nhưng Q vẫn tiếp tục nhặt viên gạch vừa ném trúng anh R ném tiếp lần thứ 03 thì viên gạch trúng vào đầu anh R, làm anh R bị thương tích, thấy vậy Q điều khiển xe bỏ đi. Còn anh R được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế Đồng Nai số 0837/TgT/2020 ngày 29/9/2020 kết luận tỷ lệ thương tích của anh Nguyễn Minh R như sau:
1. Dấu hiệu qua giám định:
- Tổn thương não vùng đỉnh phải kích thước 1,3 x 1,6cm (Áp dụng Chương 1, mục III.1). Tỷ lệ: 21%.
- Tổn thương lõm (lún) sọ vùng đỉnh phải kích thước 2,4 x 2,7cm; điện não đồ không có ổ tổn thương tương ứng (Áp dụng Chương 1, mục I.4.3). Tỷ lệ: 20%.
- Tổn thương máu tụ ngoài màng cứng vùng đỉnh phải đã điều trị hiện không còn máu tụ ngoài màng cứng vùng đỉnh phải giai đoạn bán cấp muộn (Áp dụng Chương 1, mục III.7). Tỷ lệ: 16%.
- Sẹo đỉnh kích thước 04 x 0,3cm (Áp dụng Chương 8, mục I.2). Tỷ lệ: 02%.
2. Kết luận:
Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ trưởng Bộ Y tế Quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Nguyễn Minh R -1983 áp dụng theo phương pháp cộng tại thông tư là: 48% (bốn mươi tám phần trăm).
3. Kết luận khác.
- Vật thương tích: Vật tày.
Tại Bản kết luận giám định pháp y trên hồ sơ của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế Đồng Nai số 0838/GĐHS/2020 ngày 08/10/2020 kết luận cơ chế hình thành vết thương và vật gây ra vết thương đối với anh Nguyễn Minh R như sau: Vết thương để lại sẹo đỉnh phải kích thước 04 x 0,3cm, dập não xuất huyết vùng đỉnh phải kích thước 1,3x1,6cm giai đoạn bán cấp muộn, máu tụ ngoài màng cứng vùng đỉnh phải giai đoạn bán cấp muộn, lõm sọ vùng đỉnh phải kích thước 2,4x2,7cm. Tổn thương này do vật tày tác động vào vùng đỉnh phải, có hướng từ phải qua trái và từ ngoài vào trong.
Vật chứng thu giữ: 01 viên gạch ống kính thước 10 x 20cm bị vỡ một góc và 07 mảnh gạch vỡ không rõ hình.
Tại Cáo trạng số 260/CT-VKSLT ngày 23 tháng 11 năm 2020 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Long Thành đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh Q về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xử phạt bị cáo Q từ 06 đến 07 năm tù giam.
Về xử lý vật chứng: đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 viên gạch ống kính thước 10 x 20cm bị vỡ một góc và 07 mảnh gạch vỡ không rõ hình.
Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo đã bồi thường cho bị hại anh Nguyễn Minh R số tiền 45.000.000 đồng. Anh R có đơn xin bãi nại và không có yêu cầu gì thêm.
Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu có tại hồ sơ; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại, người làm chứng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Bị hại anh Nguyễn Minh R đã được Tòa án tống đạt hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng anh R có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, Tòa án xét xử vắng mặt bị hại theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đều hợp pháp, đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Về chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai bị hại, người làm chứng, kết luận giám định cùng các vật chứng, chứng cứ, tài liệu đã được thu thập tại hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thanh Q khai nhận: Do có mâu thuẫn từ trước về việc đỗ xe đón khách, vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 07/9/2020 tại quán nước “Anh Thư” ở ấp 2 xã Long An, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Thanh Q đã có hành vi dùng gạch ống loại 04 lỗ ném vào đầu và ngực của anh Nguyễn Minh R gây thương tích 48%. Đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Thanh Q đã phạm vào điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự, thương tích của bị hại là 48% nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Xét tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự, trị an tại địa phương. Bị cáo có nhân thân xấu, năm 2011 đã từng bị xét xử về tội Cố ý gây thương tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học rèn luyện bản thân. Chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt từ trước về việc đỗ xe đón khách mà bị cáo đã sử dụng hung khí nguy hiểm là gạch ống loại 4 lỗ ném vào đầu và ngực bị hại gây thương tích 48%, thể hiện tính chất côn đồ, hung hăn, coi thường tính mạng, sức khỏe của người khác. Do đó, cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo là: đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại, khắc phục một phần hậu quả cho bị hại; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị hại anh Nguyễn Minh R có đơn xin bãi nại cho bị cáo; Bị cáo có bà ngoại và 02 cậu ruột là người có công với cách mạng nên xem xét áp dụng điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Các bên đã thỏa thuận bồi thường xong nên không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Cần tịch thu tiêu hủy 01 viên gạch ống kính thước 10 x 20cm bị vỡ một góc và 07 mảnh gạch vỡ không rõ hình thu giữ tại hiện trường.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh Q phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh Q 05 (năm) 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 20/10/2020.
Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự và áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Tịch thu tiêu hủy 01 viên gạch ống kính thước 10 x 20cm bị vỡ một góc và 07 mảnh gạch vỡ không rõ hình. Vật chứng này hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Long Thành theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 24/11/2020.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại anh Nguyễn Minh R được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai (1); - VKSND tỉnh Đồng Nai (1); - VKSND H. Long Thành (1); - Công an H. Long Thành (3); - Chi cục THADS H. Long Thành (1); - Bị cáo, Bị hại(1); - Lưu (6). | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa La Thị Hồng Gấm |