vanban.org

Bản án 25/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 20/04/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Khổng Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Khổng Văn H 10 (Mười) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 05/02/2021. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án. Án phí: Áp dụng kho… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Khổng Văn H phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Khổng Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẬP THẠCH
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2021/HS-ST
Ngày 20-4-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH, TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Nghĩa

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trung Thành

Bà Trần Thị Kim Khuyên

- Thư ký phiên toà: Bà Lại Phương Thúy - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch tham gia phiên toà: Ông Ngô Trường Út - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở UBND xã H, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc, Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 28/2021/TLST-HS ngày 07 tháng 4 năm 2021. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2021/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2021 đối với bị cáo:

Khổng Văn H, sinh năm 1995 tại tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Khổng Văn L và bà Nguyễn Thị T; có vợ là Nguyễn Thị Kim L và 01 con; tiền án: Không;

Tiền sự: tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 112 ngày 13/11/2020 Công an huyện Lập Thạch xử phạt 1.500.000đ về hành vi trộm cắp tài sản. Đến nay chưa nộp phạt.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 05/02/2021 (có mặt);

- Bị hại:

+ Ông Khổng Văn L, sinh năm 1951; trú tại: Thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt);

+ Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1995; trú tại: Thôn D, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt);

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Tạ Văn Tr, sinh năm 1976; trú tại: Thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 25/12/2020, Khổng Văn H một mình đi bộ đến nhà ông Khổng Văn L ở thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc nhờ ông Khổng Văn L chở đi Trung tâm y tế huyện L khám bệnh, do ông L mệt nên ông không đi. Sau đó, ông L đi vào nhà nằm nghỉ trên giường ở gian cạnh phòng khách, H cũng vào nhà và ngồi uống nước tại bàn khoảng 05 phút sau khi thấy ông L nằm ngủ trên giường thì H ra về. Khi ra đến thềm H nhìn thấy chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 53Y9-2884 của ông L dựng ở sân khuất tầm nhìn của ông L, chìa khóa vẫn cắm ở ổ khóa điện nên H nảy sinh ý định trộm cắp, H đi đến quay đầu dắt và ngồi lên xe nổ máy phóng đi, ông L ở trong nhà nghe thấy tiếng xe máy nổ tỉnh dậy chạy ra ngoài không thấy xe máy thì phát hiện chiếc xe máy của mình do H trộm cắp, ông L đuổi theo nhưng không đuổi kịp. Cùng ngày ông L làm đơn trình báo Công an xã Tử Du. Do bị phát hiện nên khoảng một tuần sau H mang xe về trả cho ông L và ông L giao nộp cho Cơ quan điều tra.

Tại Kết luận số 460/KL-HĐĐG ngày 06/01/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Lập Thạch kết luận: 01(một) chiếc xe máy Vina, màu sơn nâu, biển kiểm soát: 53Y9-2884, số máy: 50FMG3-10376565, số khung: H100-100000945, đăng ký sử dụng từ 16/01/2001, được định giá 1.000.000 đồng (Một triệu đồng).

Quá trình điều tra Cơ quan điều tra làm rõ H còn có hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn xã T như sau: Khoảng 13 giờ ngày 15/01/2021 Khổng Văn H một mình từ nhà đi bộ xem ai có tài sản sơ hở trộm cắp. Khi đi đến nhà anh Nguyễn Văn T ở thôn D, xã T, huyện L thấy cổng nhà không đóng nên H đi vào trộm cắp 01 lồng chim bên trong có 01 con chim họa mi màu nâu treo ở khu chuồng chăn nuôi của nhà anh T. Sau đó, H đem bán cho anh Tạ Văn Tr được 300.000đ, H đã tiêu sài hết số tiền trên. Anh T đi tìm và biết được H trộm cắp tài sản của mình nên ngày 20/01/2021 anh T làm đơn trình báo Công an xã T.

Tại Bản Kết luận số 463/KL-HĐĐG ngày 21/01/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Lập Thạch kết luận: 01 (một) con chim, loại chim họa mi, màu nâu, 01 chiếc lồng bằng tre cao 45cm, 01 tấm vải màu đỏ được khâu thành hình ống trụ, cao 45cm, đường kính 35cm được trùm bên trên chiếc lồng, được định giá 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng).

Vật chứng vụ án:

- 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 53Y9-2884 và 01 đăng ký xe là tài sản của ông Khổng Văn L, Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông L, ông L không có yêu cầu, đề nghị gì.

- 01 con chim họa mi màu nâu, 01 chiếc lồng tre, 01 tấm vải màu đỏ, quá trình điều tra xác định là tài sản của anh Nguyễn Văn T, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh T, anh T không có yêu cầu đề nghị gì.

Đối với anh Tạ Văn Tr là người mua con chim của H, quá trình điều tra xác định anh Tr không biết tài sản trên là do H phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý. Anh Tr không yêu cầu H phải trả lại số tiền 300.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra, Khổng Văn H đã khai nhận rõ toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản như nội dung nêu trên.

Bản Cáo trạng số 34/CT-VKS ngày 06/4/2021, Viện kiểm sát nhân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố bị cáo Khổng Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Khổng Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với Khổng Văn H đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Khổng Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt: Khổng Văn H từ 09 tháng đến 12 tháng tù. Không phạt bổ sung.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Bị hại là ông Khổng Văn L và anh Nguyễn Văn T trình bày: Ông và anh đã nhận được tài sản, nay không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo Khổng Văn H nói lời sau cùng: Mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lập Thạch, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Tại phiên tòa bị cáo Khổng Văn H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân huyện Lập Thạch đã truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, lời khai của người liên quan, biên bản thu giữ vật chứng, kết luận định giá tài sản …. và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ cơ sở để xác định: Do không có tiền tiêu nên Khổng Văn H đã 02 lần trộm cắp tài sản, cụ thể:

Lần thứ nhất: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 25/12/2021, tại sân nhà ông Khổng Văn L thuộc thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc, H trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Vina biển kiểm soát 53Y9-2884 của ông Khổng Văn L. Trị giá tài sản trộm cắp là 1.000.000đồng.

Lần thứ hai: Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 15/01/2021, tại nhà anh Nguyễn Văn T thuộc thôn D, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc, Khổng Văn H trộm cắp 01 con chim họa mi, 01 lồng chim, 01 tấm vải đỏ. Trị giá tài sản trộm cắp 500.000 đồng.

Bị cáo Khổng Văn H có 01 tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản đó là: Ngày 13/11/2020, Công an huyện Lập Thạch xử phạt Khổng Văn H 1.500.000đ về hành vi trộm cắp tài sản, bị cáo chưa nộp phạt. Nên hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác do bị cáo Khổng Văn H thực hiện đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:

1. “Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá … dưới 2.000.000đ nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

… a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm”.

Xét tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, xong hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây sự bất bình trong quần chúng nhân dân. Bản thân bị cáo là thanh niên có sức khỏe, nhưng bị cáo không chịu làm ăn lương thiện, mà ăn chơi đua đòi trộm cắp tài sản lấy tiền ăn tiêu. Vì vậy việc đưa bị cáo ra xử lý nghiêm minh trước pháp luật là cần thiết nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Khổng Văn H sau khi phạm tội đã đem tài sản trả lại cho bị hại, bị cáo trộm cắp tài sản nhưng gây thiệt hại không lớn, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngày 13/11/2020, bị cáo bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản chưa được xóa, đến ngày 25/12/2020 và ngày 15/01/2021 lại liên tiếp trộm cắp tài sản, vì vậy bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội nhiều lần theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Từ những phân tích, đánh giá nêu trên thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù một thời gian phù hợp mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm nói chung.

. Về việc áp dụng hình phạt bổ sung: Bản thân bị cáo không có việc làm, không có tài sản gì nên không cần thiết phải phạt bị cáo một khoản tiền sung quỹ Nhà nước.

. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là ông Khổng Văn L, anh Nguyễn Văn T đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

Anh Tạ Văn Tr là người mua tài sản do H trộm cắp mà có 300.000 đồng, nay tài sản này đã trả cho bị hại, anh T tự nguyện không yêu cầu H phải trả lại số tiền 300.000đồng trên nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

. Về xử lý vật chứng:

- 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 53Y9-2884 và 01 đăng ký xe là tài sản của ông Khổng Văn L, Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông L là phù hợp.

- 01 con chim họa mi màu nâu, 01 chiếc lồng tre, 01 tấm vải màu đỏ, quá trình điều tra xác định là tài sản của anh Nguyễn Văn T, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh T là phù hợp.

. Đối với anh Tạ Văn Tr là người mua tài sản do bị cáo H trộm cắp, quá trình điều tra xác định anh Tr không biết tài sản đó là do H phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.

. Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Tuyên bố: bị cáo Khổng Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Khổng Văn H 10 (Mười) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 05/02/2021. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

- Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Khổng Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc niêm yết.

Cỡ chữ